Mở đầu chương này tôi sẽ cùng các bạn nhìn lại nguyên nhân cùng với diễn biến căn bản của cuộc khủng hoảng. Trong phần kế tiếp tôi sẽ đem các nguyên nhân, diễn biến đó đặt lên biểu đồ dưới góc nhìn liên thị trường. Mục đích của chương này là cho người đọc thấy được các mối tương quan liên thị trường hiện hữu trong financial market. Qua đó thấy được vai trò chỉ báo sớm của phân tích liên thị trường trước mỗi vận động lớn tiềm tàng có thể có trong đầu cơ giao dịch cũng như trong đầu tư.
NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG
Trong lịch sử điều hành chính sách tài chính, tiền tệ của Cục dự trữ liên bang Mỹ có một nhân vật đã trở thành tượng đài cho đến tận ngày nay. Đó là Alan Greenspan- người được biết đến như là một học giả của các các thuyết đại khủng hoảng. Theo lẽ thông thường, FED chairman có nhiệm kỳ chỉ kéo dài 4 năm nhưng lão ma đầu này có tới 20 năm trên cương vị là người điều hành the FED, kéo dài từ 1987 đến tận 2006. Được ca ngợi là người hùng trong các cuộc khủng hoảng 1987 và bong bóng dot com của năm 2000. Nhưng cũng chính vì chính sách giải cứu kinh tế sau khủng hoảng công nghệ năm 2000 này mà ông này bị nhiều nhà kinh tế gia khác gọi là tội đồ gây ra cuộc khủng hoảng tài chính chính, bất động sản năm 2008. Lý do là sau khủng hoảng năm 2000 nổ ra, Alan Greenspan đã thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức (flood the cheap $ on the street) để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng, cứu nền kinh tế Mỹ khỏi suy thoái. Chỉ từ tháng 5/2001 đến tháng 12/2002, FED đã 11 lần cắt giảm lãi suất cho vay từ 6,5% xuống còn 1,75%/năm.
Chính sách lãi suất siêu thấp này đã thúc đẩy một số lượng lớn người dân đổ xô vào các ngân hàng thương mại (NHTM) vay tiền (trả lãi và vốn trong một thời gian dài) đem đi mua nhà. Về phía các NHTM sau khi cho người dân vay tiền, họ lại được tái được cấp vốn bởi hai công ty tài chính lớn nhất có sự bảo trợ của chính phủ Mỹ là Fanie Mae và Frieddie Mac(*) thông qua hình thức hai công ty này tiến hành mua lại các khoản cho vay của NHTM. Việc được tái cấp vốn này vô tình trở thành động lực làm cho các NHTM tiến hành cho vay một cách dễ dãi, không kiểm soát, dẫn đến kết quả nhiều khoản cho vay là dưới chuẩn, tình trạng đầu cơ, giá nhà bùng nổ…
Từ các khoản mua lại này, Fanie Mae và Frieddie Mac lại biến chúng thành các chứng từ được đảm bảo bằng các khoản vay thế chấp để bán lại cho các đại công ty tài chính và ngân hàng đầu tư như Bear Stearms, Lehman Brother, Merrill Lynch…
Các đại công ty tài chính, ngân hàng đầu tư này từ đó sẽ phát hành trái phiếu trên cơ sở các chứng từ cho vay thế chấp đó để bán cho các ngân hàng Mỹ khác và ngân hàng nhiều nước trên thế giới làm tài sản tích trữ do uy tín của các ngân hàng phát hành.
Việc “chứng khoán hoá” các khoản vay thế chấp đã vượt khỏi sự kiểm soát của chính phủ. Vòng luẩn quẩn của việc cho vay, tái cấp vốn và phát hành trái phiếu này cứ lập đi lập lại mà thật chất chỉ là đầu cơ đã làm thị trường nhà đất nóng lên, giá nhà đất bị đẩy lên cao cho đến khi người ta chợt nhận ra rằng nhu cầu nhà ở không có thật cao như vậy thì bong bóng nhà bắt đầu …. nổ.
(*)Ghi chú: Federal National Mortgage Association (Quỹ Thế chấp Nhà ở Quốc gia Liên bang), viết tắt là FNMA, còn được gọi là Fannie Mae, là một công ty đại chúng và là một tổ chức tài chính của Hoa Kỳ chuyên mua và chứng khoán hóa các khoản thế chấp nhằm đảm bảo về tài chính cho tổ chức tài chính cho người dân vay tiền để mua nhà ở.
Không giống như ở Việt Nam, khi đi mua nhà hầu hết bà con thanh toán bằng tiền mặt. Ở Mỹ thì không giống vậy. Nghĩa là khi đi mua nhà, hầu hết người dân Mỹ không có đủ tiền để trả ngay một cục. Thí dụ trị giá căn nhà họ mua là 100k$ thì họ chỉ cần có 20k$ trong túi thôi, 80k$ còn lại họ sẽ đến các ngân hàng or tổ chức tín dụng để vay. Vật thế chấp chính là căn nhà dự định sẽ mua đó. Fannie Mae sẽ mua khoản thế chấp đó từ tổ chức tài chính đã cho người dân vay tiền đó, chuyển khoản thế chấp này thành phiếu nợ đảm bảo bằng tài sản(chứng từ), rồi đem bán cho các nhà đầu tư chứng khoán với cam kết rằng sẽ trả gốc và lãi đúng hạn cho họ. Phần chênh lệch giữa tiền thu được từ bán chứng khoán và số tiền bỏ ra mua khoản thế chấp là nguồn thu của Fannie Mae. Cơ chế này tạo ra một sự đảm bảo cả cho người đi mua nhà lẫn tổ chức tín dụng. Nếu không có, tổ chức tín dụng có thể ngần ngại cho người mua nhà vay tiền vì sợ rủi ro rằng người đi vay không trả được nợ. Ngoài ra Fannie Mae còn đi vay trên thị trường nợ, thường là với lãi suất thấp hơn lãi suất của ngân hàng, rồi đi mua lại các khoản cầm cố của các tổ chức tín dụng.
Fannie Mae được thành lập vào năm 1938 để ổn định hóa nguồn cung nhà ở cho Hoa Kỳ sau Đại Khủng hoảng 1929- 1933. Ban đầu, nó là một công ty do chính phủ tài trợ. Sau đó vào năm 1968, chính phủ Hoa Kỳ quyết định chuyển đổi sở hữu của công ty này, thành một công ty cổ phần. Công ty niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán New York với mã là FNMA.
Fannie Mae và Freddie Mac đã cùng nhau kiểm soát gần như toàn bộ thị trường nhà ở của Hoa Kỳ. Cho nên khi cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra cuối năm 2007, cả hai cùng bị tổn thất tài chính nặng nề vì họ sở hữu hoặc bảo lãnh cho một nửa tổng số nợ thế chấp mua nhà của cả nước. Giá cổ phiếu của Fannie Mae sụt nghiêm trọng. Chính phủ và Quốc hội Hoa Kỳ đang xem xét kế hoạch quốc hữu hóa Fannie Mae và Freddie Mac.
DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG
Vào đầu năm 2006, thị trường nhà đất bắt đầu có dấu hiệu suy giảm. Những ngôi nhà mới xây đã không bán được và hậu quả là sự tăng giá bắt đầu giảm mạnh. Nguyên nhân của tình trạng này là sự đảo ngược chính sách tiền tệ của FED. Nền kinh tế Mỹ đã bước vào năm thứ 4 tăng trưởng liên tục và những dấu hiệu lạm phát gia tăng mạnh đã xuất hiện. Một loạt các chỉ số giá khác cũng gia tăng. FED đã phản ứng lại bằng cách liên tục tăng lãi suất.
Chính sách tiền tệ thắt chặt của FED đã làm cho lãi suất ARM* tăng cao. Lãi suất tăng gây bất ngờ đối với những người vay nợ dưới chuẩn. Do tình trạng tài chính eo hẹp, nhiều người đã không đủ khả năng thanh toán. Tỷ lệ nợ quá hạn và vỡ nợ bắt đầu tăng mạnh. Điều này đối ngược với việc các nền tảng cơ bản của nền kinh tế vẫn tốt bởi lãi suất mặc dù có khuynh hướng tăng nhưng nó vẫn ở mức thấp trong lịch sử.
*ARM: Adjustable- rate mortgage (Cầm cố lãi suất có điều chỉnh). Khi vay mua nhà tại các NHTM vào thời kỳ những năm 2002- 2005, người dân Mỹ có hai lựa chọn chi trả lãi vay. Hình thức thứ nhất là trả theo lãi suất cố định, hình thức thứ nhì là trả theo lãi suất thả nổi (có điều chỉnh). Điểm đặc biệt ở đây là loại lãi suất cố định thường cao hơn một chút so với lãi suất cầm cố có điều chỉnh tùy theo điều kiện của lãi suất cơ bản (Fed Fund rate) khi ấy. Lãi suất ARM tuy có thấp hơn lãi suất cố định nhưng người đi vay lại phải đối mặt với rủi ro tăng lãi suất trong tương lai. Nhưng tại thời điểm đó, phần lớn người dân không nhận thức được rủi ro tăng lãi suất sau này khi nền kinh tế phát triển và lạm phát tăng cao. Chính vì lẽ đó, hầu hết người dân vay tiền khi đó lựa chọn hình thức trả lãi theo ARM. Hậu quả là sau bốn năm lới lỏng tiền tệ để thúc đẩy kinh tế, đến đầu năm 2006, áp lực lạm phát gia tăng khiến FED bắt đầu chu kỳ thắt chặt (tăng rate) thì phần đa những người đi vay tiền trước đó phải chịu đựng một mức lãi suất cao hơn. Nhà xây mới không bán được khiến cho giá nhà bị giảm càng làm trầm trọng thêm vấn đề và hậu quả tất yếu là những người vay tiền mua nhà trước đó vỡ nợ, đặc biệt là những khoản nợ dưới chuẩn.
Khi phần đa những người dân đã vay tiền mua nhà trước đó không thể trả nổi các khoản nợ gốc cũng như lãi vay thì dẫn đến một tình trạng tất yếu là các NHTM tiến hành tịch thâu căn nhà mà họ mang ra thế chấp khi vay tiền đó (danh từ nhà nghề gọi đây là giải chấp). Nhưng khốn một nỗi là giá nhà bây giờ đâu còn là giá nhà lúc trước. Nhà xây mới không bán được, hầu ai ai cũng nhận ra quá trình tăng giá lúc trước chỉ là do tình trạng đầu cơ gây nên đã đẩy toàn bộ thị trường nhà đất sụp đổ. Thị trường nhà sụp đổ thì các khoản cho vay tại NHTM, tổ chức tín dụng được hai công ty tài chính Fanei Mae và Frieddie Mac mua lại trước đó để phát hành chứng từ đảm bảo bị mất giá. Khi những chứng từ này mất giá trị thì những trái phiếu do các Ngân hàng đầu tư và công ty tài chính khác đã phát hành ra thị trường có nguy cơ vỡ nợ hay đúng hơn là những trái phiếu này mất khả năng thanh toán.
Từ thị trường nhà đất, khủng hoảng lan sang thị trường tín dụng- nơi huyết mạch của nền kinh tế. Khi một loạt các tổ chức tài chính- tín dụng, ngân hàng đầu tư lớn như Bear Stearms, Lehman Brother đệ đơn phá sản đã châm ngòi cho khủng hoảng niềm tin xảy ra trong dân chúng. Những người có tiền gởi tại bank trước đó, đồng loạt kéo nhau đến rút tiền càng làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn.
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008 DƯỚI GÓC NHÌN LIÊN THỊ TRƯỜNG
Nếu là một trader or investor sử dụng liên thị trường trong các quyết định giao dịch thì hẳn có lẽ khi U.S Stock crash bắt đầu vào tháng 10/2007 thì bạn đã nguyên con ngồi ngoài trước đó từ 3- 6 tháng rồi.
Khởi đầu đi là chênh lệch lợi tức trái phiếu chính phủ Mỹ (bond spread(*) ) thu hẹp đến mức đường cong lợi tức (Treasury yield curve) bị đảo ngược kéo dài suốt từ tháng 11/2006 cho đến tháng 9/2007 chính là một trong những tín hiệu cảnh báo sớm nhất cho sự kiện stock market sẽ crash vào tháng 10 tới.
(*)Ghi chú: Bond spread: bond= trái phiếu; spread= kéo dãn. Thuật ngữ bond spread được xài để nói đến sự chênh lệch lợi tức (yield) giữa hai loại trái phiếu với nhau. Hai loại trái phiếu này có thể là của cùng một quốc gia nhưng khác nhau ở kỳ hạn or là hai loại trái phiếu của hai quốc gia khác nhau nhưng có cùng kỳ hạn với nhau(exp: Sự chênh lệch lợi tức giữa trái phiếu 10 năm của Đức – Germany 10 year bond yield (German bund) và của Mỹ được gọi là một bond spread. Trader thường coi chỉ báo này để tiên đoán hướng đi của cặp tiền EURUSD. Trong minh họa trên, hình ảnh của bond spread được tính bằng cách lấy lợi tức của trái phiếu kỳ hạn 10 năm cuả Mỹ trừ đi lợi tức trái phiếu kỳ hạn 2 năm.
Kết quả của sự thu hẹp trong bond spread là một đường cong lợi tức dần phẳng hơn (or cường độ cao hơn là đảo ngược). Đường cong lợi tức hay còn gọi là yield curve là một trong những công cụ dự báo kinh tế hiệu quả. Phần chi tiết về yield curve sẽ được trình bày trong chương tiếp trong nội dung bàn về mối quan hệ giữa thị trường trái phiếu và thị trường hàng hóa. Trong khuân khổ của chương này chỉ sẽ dừng lại ở mức vẽ lại bức tranh khủng hoảng 2008 dưới góc nhìn liên thị trường, nên các khái niệm sâu hơn sẽ không được chú thích tại đây.
GÓC NHÌN LIÊN THỊ TRƯỜNG CHO CURRENCY TRADER NĂM KHỦNG HOẢNG 2008
Đường cong lợi tức bằng phẳng xuất hiện bắt đầu từ cuối năm 2005, và chuyển sang đảo ngược vào năm 2006-2007 khi các nhà giao dịch trái phiếu đã giảm lượng đầu tư vào trái phiếu kì hạn dài do lo ngại tỷ lệ tăng trưởng kinh tế sẽ giảm sút. Trong suốt năm 2006 và nửa đầu năm 2007, Chủ tịch Fed Ben Bernanke đã chuyển sự tập trung từ lý thuyết dư thừa tiết kiệm trên toàn cầu sang nhấn mạnh rủi ro tăng lạm phát, tuy nhiên, lão ma này chỉ đề cập đến yếu tố giá nhà giảm sút chỉ đơn thuần là một “sự điều chỉnh” mà “không thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế hoặc hệ thống tài chính”.
Cho đến tận thời điểm này, Ben Bernanke cũng như bao quan chức FED khác không biết vô tình hay hữu ý liên tục cảnh báo về sự nguy hiểm của lạm phát đồng thời ra sức trấn an công chúng vào sự điều chỉnh trên thị trường nhà đất, nhà đầu tư có quyền kì vọng vào một đợt tăng lãi suất vào cuối năm 2007, hoặc đầu năm 2008.
Nếu là một người có kiến thức căn bản và là một người nhớ bài học lịch sử(*) thì trader đó hiển nhiên biết những lời trấn an này của the FED đi ngược với những điều biểu đồ yield curve diễn giải. Theo đó thì, lợi tức trái phiếu dài hạn đã suy giảm về mức bằng hoặc thấp hơn lợi tức trái phiếu ngắn hạn. Đây là điều hết sức vô lý trong một môi trường kinh tế đang phát triển bình thường. Theo lẽ thường tình, trái phiếu có kỳ hạn càng cao thì rủi ro càng tăng cho nên lợi tức của nó phải càng cao. Trong những năm tháng trước khủng hoảng 2007 thì ngược lại. Trái phiều kỳ hạn càng cao lợi tức lại càng thấp trong khi nền kinh tế vẫn mở rộng là một điều vô lý! Vận động khác thường của yield curve chính là minh chứng cho smart $ đang lo ngại về viễn ảnh của một kinh tế tương lai không mấy khả quan, và là một dấu hiệu rõ nhất cảnh báo nền kinh tế đã đang ở đỉnh của chu kỳ tăng trưởng. Khi mối lo này dâng cao thì smart $ chạy vào trái phiếu, đặc biệt là các bond có kỳ hạn dài. Điều này làm cho giá trái phiếu tăng cao và đồng thời lợi tức trái phiếu xuống thấp. Trong lịch sử từng xảy ra không dưới 11 lần yield curve đảo ngược như này, và trong mỗi tình huống như thế, hành động của the FED là cắt giảm lãi suất chứ không phải là tăng lãi suất vì mối lo lạm phát dâng cao như FED từng diễn giải, trấn an market như bên trên.
(*)Ghi chú: Bài học lịch sử ở đây ý muốn nói đến xác xuất dự báo chính xác tới 86% của yield curve trong mỗi lần nó đảo ngược là kinh kinh tế sẽ đi vào suy thoái tính từ 1929- 2008.
Biểu đồ dưới đây cho thấy tầm quan trọng của việc theo dõi diễn biến của thị trường trái phiếu để tiên đoán hướng đi của thị trường tiền tệ. Theo đó thì sự kiện bond spread thu hẹp (đường cong lợi tức đảo ngược) xảy ra trùng với thời điểm đồng dollar mỹ bắt đầu đi xuống.
Lịch sử đã đúng, yield curve đã đúng, bond spread đã đúng chứ không phải là the FED, đồng đô-la đã tuân theo quy luật của sự đảo ngược đường cong lợi tức. Để rồi suy yếu từ đó chứ không phải tiếp tục đi lên theo như lời trấn an của FED chair man rằng kinh tế vẫn đăng trưởng, áp lực lạm phát đang dâng cao và họ sẽ vẫn còn tăng lãi suất. Nếu chiếu theo những lời trấn an này của một cơ quan quyền uy bậc nhất như the FED mà bỏ qua những vận động bất thường của thị trường trái phiếu thì đồng USD phải tăng tiếp trong tương lai. Nhưng thực tế thì sau khi tăng 15% vào năm 2005, chỉ số đô-la đã leo lên đỉnh vào tháng Mười Một năm 2005. Đồng bạc xanh đã trụ vững ở mức này trong suốt 8 tuần đầu tiên của năm 2006, trước khi tạo đỉnh vào tuần thứ hai của tháng Ba năm 2006. Thời điểm này là hai tháng sau khi đường cong lợi tức đảo ngược. Sau đó, đồng đô-la bắt đầu thời kỳ giảm giá kéo dài đến tháng Tư và tháng Năm năm 2006, khi Cục Dự trữ liên bang thông báo kết thúc chiến dịch tăng lãi suất kéo dài hai năm. Vào cuối năm 2006, đồng euro đã tăng giá trở lại mức 1 EUR = 1,30 USD đạt được hồi tháng Tư năm 2005 khi tăng trưởng kinh tế Mỹ thấp hơn so với khu vực sử dụng đồng Euro, Anh, Canada, úc và Nhật.


GÓC NHÌN LIÊN THỊ TRƯỜNG CHO STOCK TRADER
Trước những trấn an của một cơ quan quyền năng tối cao như the FED, thị trường chứng khoán toàn cầu và Mỹ đã bật lên một cách mạnh mẽ, liên tục lập kỉ lục mới vào quý 2 năm 2007 sau đợt tháo hồi cuối tháng Hai đầu tháng Ba, khi mà thị trường Trung Quốc đã bị mất 9% và hàng loạt báo cáo cho thấy tình hình bi quan của nền kinh tế Mỹ đã làm lung lay niềm tin của nhà đầu tư.
Cho đến thời điểm này, các quan chức FED vẫn quả quyết rằng nền kinh tế Mỹ sẽ miễn dịch trước sự tụt dốc của thị trường nhà đất với niềm tin rằng tác nhân tiêu cực này vẫn đang bị giới hạn trong thị trường cho vay thứ cấp (gồm các khoản nợ dưới chuẩn). Những tuyên bố chính thức đó được đưa ra trong bối cảnh tỷ lệ tăng GDP đã giảm từ 4,6% trong quý 1 năm 2006 xuống thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng danh nghĩa lần lượt là 2,4%, 1,1%, 2,1% và 0,6% trong 4 quý liên tục. Vào quý 2 và quý 3 năm 2007, tỷ lệ tăng trưởng GDP tăng trở lại tương ứng là 3,8% và 4,9%, nguyên nhân chủ yếu là do sự khởi sắc của hoạt động xuất khẩu nhờ đồng đô-la giảm giá, nhu cầu của Mỹ giảm, và tăng trưởng nước ngoài mạnh. Nhưng con số tăng trưởng GDP ròng này không thể hiện được tình trạng u ám của thị trường nhà đất và sự suy giảm tính thanh khoản của thị trường.
Khi Fed đưa ra dự báo rằng kinh tế Mỹ sẽ tiếp tục tăng trưởng trong quý 2 năm 2007, các công ty chứng khoán tư nhân đã đẩy mạnh giao dịch, hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất cũng trở nên sôi động hơn khi tâm lý ưa thích rủi ro quay trở lại và đẩy đồng yên Nhật xuống mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây. Trong lúc đó, diễn biến trên thị trường nhà đất có chiều hướng xấu đi, doanh số nhà mới xây đã giảm 25% so với cùng kì năm trước, con số thống kê hàng tháng về số lượng lao động làm việc trong lĩnh vực xây dựng đã rơi xuống thấp hơn mức bình quân ba tháng, trong khi số lượng nhà mới xây và giấy phép xây dựng được cấp (building permits and housing starts) đã giảm 25% tới 30% so với cùng kì năm trước, xuống mức thấp nhất trong 10 năm.
Vào tháng Bảy năm 2007, cuối cùng thì các thị trường tài chính cũng phải thừa nhận thất bại khi các hãng xếp hạng tín dụng hạ bậc xếp hạng 10 tỷ chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản vay và thế chấp có chất lượng tín dụng kém. Chỉ trong vòng một tháng, các quỹ phòng hộ rủi ro công bố con số thua lỗ là 30% – 40%, trong khi các tổ chức còn lại bị phá sản sau khi làm tiêu tan toàn bộ vốn liếng đầu tư của khách hàng. Vào tháng Tám, lãi suất thị trường tăng lên trong bối cảnh lòng tin của các tổ chức tín dụng đang bị khủng hoảng nghiêm trọng đã khiến doanh số cho vay của thị trường liên ngân hàng giảm xuống một nửa. Các chỉ số chứng khoán giảm từ 4% đến 7% mỗi tuần trong khi chỉ số VIX(*) tăng lên mức kỷ lục trong 4 năm qua.
(*) Ghi chú: VIX- viết đầy đủ là CBOE volatility index, chỉ số đo lường mức độ biến động trong thị trường. VIX còn được biết đến dưới tên gọi chỉ số sợ hãi (fear index). Lý do gọi như thế là bởi vì mỗi khi chỉ số này tăng cao thì thị trường chứng khoán lại sụt giảm. VIX tăng cao hơn 40 thường là ứng với các thời kỳ suy thoái xảy ra trong thị trường chứng khoán. Ngược lại trong các thời kỳ VIX ổn định dưới mức 20, thị trường chứng khoán thường tăng mạnh. Cách thức xài VIX trong phân tích liên thị trường là nhìn vận động của nó để đi kiếm tâm tư của người chơi trong cuộc. VIX tăng mạnh là “nỗi sợ” trong lòng người đầu tư dâng cao; VIX giảm thấp là “niềm tin- lòng tham” người ta đang chiếm ưu thế.
Chỉ 9 ngày sau khi Fed tuyên bố giữ nguyên mức lãi suất 5,25% và phát biểu rằng lạm phát vẫn là “mối quan tâm về chính sách đang chiếm ưu thế” , ủy ban phụ trách Thị trường mở Liên bang đã triệu tập một cuộc họp khẩn cấp và quyết định cắt giảm mức lãi suất chiết khấu xuống 50 điểm. Chưa đầy hai tuần sau khi Fed tuyên bố rằng “nguy cơ về sự sụt giảm tăng trưởng đã tăng lên”, cụm từ này đã được sửa lại thành “tăng đáng kể” nhưng tuyệt nhiên không đề cập gì đến lạm phát. Diễn biến trên thị trường ngày một xấu đi, số lượng ngân hàng đệ đơn xin phá sản ngày càng nhiều và vô số dấu hiệu suy yếu kinh tế xuất hiện với mật độ dày đặc, đây chính là nguyên nhân buộc NHTW phải cắt giảm lãi suất xuống 100 điểm vào năm 2007, tiếp sau đó là một đợt cắt giảm đột ngột chưa từng có tiền lệ, xuống 125 điểm chỉ trong chín ngày vào tháng Giêng năm 2008, kéo lãi suất Fed xuống còn 3%.

Khi market crash, nỗi sợ trong lòng người trader và investor dâng cao đẩy người ta tìm về các lớp tài sản mang tính trú ẩn và Yên Nhật là một trong số đó. Điều này được thể hiện trong biểu đồ dưới đây. Khi u.s stock có những vận động suy thoái đầy tiên cũng là lúc cặp tiền EURJPY hình thành mô hình broadening top đảo chiều.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét