Các quy luật liên thị trường phổ biến, các giai đoạn trong chu kỳ kinh tế và tương quan giữa các thị trường với nhau.

Các quy luật liên thị trường phổ biến, các giai đoạn trong chu kỳ kinh tế và tương quan giữa các thị trường với nhau.

CÁC QUY LUẬT LIÊN THỊ TRƯỜNG PHỔ BIẾN
Năm 2007 tôi thi đậu trường Đại học Sư phạm Tây Bắc chuyên khoa Sinh- Hóa. Mặc dù đậu, nhưng đây chẳng phải chuyên khoa tui yêu thích gì. Tôi thích Toán hơn, nhưng mà vì học dốt nên tui rớt khối A trường Bách Khoa chuyên ngành Công nghệ thông tin. Tháng 9/2007 tôi vào đại học và đây cũng là những năm tháng đầu tiên tui được tiếp cận với mạng internet, với máy tính. Thời đó máy tính vẫn hiếm lắm, laptop lại càng hiếm hơn, không biết đám sinh viên thành phố thì sao chứ đám tỉnh lẻ như tụi tui thì nghèo lắm. Cho nên, đám sinh viên tụi tôi mỗi khi cần tra cứu or tìm hiểu thường phải ra quán nét ngồi tới khuya. Giá quán nét hồi đó tôi không còn nhớ chính xác là bao, nhưng chắc là rẻ lắm, tại vì hầu tối nào tui cũng ra quán nét đọc mấy bài báo lá cải mà, nếu mắc thì sao tui có đủ tiền chứ.
Học tập theo nghề giáo được chừng nửa năm ở đây thì tôi bắt đầu có những chán nản đầu tiên. Cùng với đó là câu chuyện thị trường chứng khoán bùng nổ len lỏi đến từng ngõ ngách, từng miền quê hẻo lánh, yên bình. Chứng khoán trở thành câu chuyện hot nhứt thời bấy giờ đương nhiên thu hút sự chú ý của tui- một chú bé mới lần đầu xa nhà. Trí tò mò kích thích tui có những tìm hiểu ban đầu về thị trường tài chính nói chung và chứng khoán nói riêng. Càng tìm hiểu tui càng đam mê, cộng với sự kích thích từ báo chí truyền thông kể về những câu chuyện kiếm tiền từ chứng khoán sao mà dễ, sao mà nhiều đến thế càng làm tôi dứt khoát hơn là mình sẽ thi lại năm sau. Tôi còn nhớ như in hình ảnh hai người khách hàng khênh một bao tải tiền đến cửa công ty chứng khoán để “đầu tư”, bài báo đó lâu rùi, tôi chẳng còn nhớ link, cũng chẳng biết nội dung bài báo đó là thiệt hay chỉ là do đám công ty chứng khoán pr, nhưng hình ảnh đó tui vẫn còn nhớ như in.
Cùng với sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán, nghề môi giới đương nhiên trở thành một nghề hót nhứt luôn và thu nhập cũng thuộc hàng cao nhứt thời bấy giờ luôn. Những bài báo kể về anh môi giới này, kia kiếm hơn trăm triệu/tháng (2007) làm tui khoái lắm. Tui quyết trí ôn và thi lại năm sau. Ý định rằng ra trường mình sẽ làm môi giới, sơ mi trắng, cổ cồn đen, vác điện thoại đi đi lại lại trên sàn, bla bla, … Tui chọn trường Kinh tế quốc dân làm lò luyện nghề cho mình, vì nghe giang hồ bảo trường đó là thuộc hạng hót nhứt trong đám trường dạy về kinh tế tại Việt Nam mà. Tui đậu. Tháng 9/2008, lần thứ hai tui vô nhập học cũng là lúc thị trường chứng khoán bị sụp rùi, nhưng quá khứ huy hoàng của những năm 2006- 2007 vẫn còn ám ảnh người dân xứ Việt mình nhiều lắm, tui cũng thế, cứ tin rằng một vài tháng or cùng lắm đến khi mình ra trường thì chứng khoán sẽ lên lại thôi. Ai có ngờ đâu, mãi đến khi tôi tốt nghiệp mà nó vẫn chưa thấy chồi đầu lên lại. Đây có thể coi là một dĩ vãng buồn. Nhưng câu chuyện mà tui muốn kể tại đây khi ôn lại dĩ vãng là quá trình vật giá leo thang chóng mặt vào những năm tháng đầu khi mới vô Hà thành nhập học.
Vì là sinh viên miền núi xa xôi khó khăn mà tui được nhà trường bố trí cho ở Ký túc xá. Phòng tui có tất cả 10 đứa, mỗi đứa đến từ một miền quê khác nhau, nhưng tựu chung lại thì đều có một đặc điểm chung là gia đình tụi tui chẳng khá giả gì. Đứa con nhà nghèo, đứa con thương binh, đứa con liệt sĩ… Vì nghèo nên tụi tui thương nhau lắm, đi đâu, làm gì cũng thường kéo cả đám đi cùng nhau. Tui vẫn nhớ tụi tui thường xài cơm của căng-tin, mỗi xuất cơm khi đó là 10k- 12k. Nhưng đến hết học kỳ I, sau khi tụi tui về quê ăn tết lên thì vật giá mọi thứ leo thang kinh khiếp. Xuất cơm lúc trước giờ đều có giá khoảng 15k- 25k và phổ biến là 20k. {(20- 12)/12 = 67%}. Đó là trong nhà ăn của trường học, bên ngoài còn mắc hơn. Thực phẩm có thể là món hàng tăng kinh khiếp nhất lúc bấy giờ, các món hàng khác cũng tăng nhưng có lẽ mức tăng không nhiều bằng đồ ăn. Chính phủ năm đó công bố CPI chung của cả nước là 19,87% nhưng nhìn vào các món hàng năm đó mà nói thì tui nghĩ rằng con số thiệt sự còn cao hơn nhiều. Tác động của một CPI cao là Ngân hàng nhà nước phải quy định một lãi suất cao hơn, theo trí nhớ của tui thì là khoảng 14%, nhưng trên thực tế thì không một ngân hàng thương mại nào lúc đó có mức lãi suất này mà con số thật sự là khoảng 20%. Với 20% lãi suất cho một khoản vay đã đẩy hầu hết các doanh nghiệp co cụm lại, đâu mấy ai còn dám mạnh tay vay tiền đầu tư làm ăn nữa đâu. Hệ quả tất yếu của việc thu hẹp đầu tư sản xuất này là kinh tế suy yếu đi trông thấy. Kinh tế suy yếu đi thì thị trường chứng khoán còn chưa ngóc đầu lên nổi. Vòng luẩn quẩn của vật giá leo thang đẩy lãi suất tăng cao và bóp chết nền kinh tế còn kéo dài sang tận nhưng năm sau đó, tuy rằng mức độ đã có phần giảm hơn.
Điều tui muốn nói tại đây khi dài dòng ôn lại dĩ vãng là để cho bạn đọc thấy được tầm quan trọng của việc theo dõi biến động giá cả của các món hàng các bạn xài thường ngày. Từ những quan sát này sẽ là đầu mối, nền tảng cho những phân tích liên thị trường sâu hơn nữa.
Mối quan hệ giữa thị trường hàng hóa và trái phiếu là một trong những mối quan hệ liên thị trường quan trọng nhất. Vì sao? Đây chính là điểm bắt đầu của “sợi dây thun” liên kết 4 thị trường lại với nhau. Sợi dây thun ấy là gì? Câu trả lời làlạm phátChính vì là lạm phát nên chúng ta phải bắt đầu từ thị trường hàng hóa mà đi. Giá cả hàng hóa tăng chính là chỉ báo đầu tiên và rõ ràng nhất cho một thời kỳ lạm phát sẽ tăng trong tương lai, và ngược lại khi giá cả hàng hóa giảm chính là dấu hiệu cho một lạm phát thấp trong những ngày sắp tới.
Phương cách điều hành kinh tế quen thuộc của các ngân hàng trung ương trên thế giới là khi lạm phát tăng thì họ tăng lãi suất, khi lạm phát không có (thấp) thì lãi suất ngừng tăng. Vì lý do này, lạm phát và lãi suất là hai mặt của một vấn đề.
Trong khi đó, linh hồn của thị trường trái phiếu (bonds) lại chính là lợi tức (yield)Danh từ Lợi tức ở đây chỉ là một hình thái tổng thể, một tên gọi khác của lãi suất, bao gồm trong đó là lãi suất ngắn hạn (cho các trái phiếu kỳ hạn ngắn- thường dưới 2 năm) và lãi suất dài hạn (cho các trái phiếu có kỳ hạn dài- thường trên 7 năm). Trong khi lãi suất ngắn hạn thường do các Central bank quy định thì lãi suất dài hạn thường được hình thành thông qua phương thức đấu giá bond ( danh từ nhà nghề gọi là bond aution trong forexfactory đó). Những vận động của lãi suất về cơ bản sẽ gây ra những xáo trộn trên các thị trường vốn và tiền tệ. Do đó, trader dù là sống trong thị trường nào cũng cần phải theo dõi sát sao những vận động của lãi suất. Để làm được việc này thì không gì chính xác hơn là dõi theo diễn biến trên thị trường hàng hóa và trái phiếu. Đó chính là lý do tôi bắt đầu nghiên cứu các quy tắc liên thị trường dưới đây bằng việc xét mối quan hệ liên thị trường giữa hàng hóa và trái phiếu.
Sợi dây xuyên suốt 4 bộ phận cấu thành của financial market là lạm phát và phân lời. Nắm bắt rõ vận động của hai sợi dây thun này là chìa khóa cho mọi phân tích liên thị trường tổng thể.
Điểm khó nhất trong thực hiện phân tích liên thị trường là người phân tích thường không biết phải bắt đầu từ đâu. Với bốn bộ phận cấu thành, bond, currency, commondity và stock, câu hỏi đặt ra là nên bắt đầu từ thị trường nào thì hợp lý. Đây không phải là một câu hỏi khó mà là một câu hỏi không thể trả lời. Nó làm nhức đầu phần lớn những người mới tiếp cận theo cách thức phân tích này. Lý do không thể trả là vì nó không có câu trả lời duy nhất. Một IA- Trader (trader theo phân tích liên thị trường) phải có khả năng tìm ra được câu chuyện (cơ bản) đang ăn khách nhất hiện thời. Từ câu chuyện cơ bản đó người trader mới có thể xác định đâu là động lực thật sự đang dịch chuyển thị trường, và đây chính là cơ sở để xác định điểm bắt đầu trong phân tích liên thị trường. Mặc dù khả năng hiểu và tìm kiếm câu chuyện cơ bản để xác định điểm bắt đầu trong phân tích liên thị trường cần nhiều thời gian thực hành mới có, xong intermarket analysis căn bản vẫn được tiến hành dựa trên bốn mối quan hệ chính sau:
(1) Trái phiếu và hàng hóa là một invese relationship
(2) Mối quan hệ nghịch đảo giữa hàng hóa và tiền tệ
(3) Mối quan hệ giữa Lợi tức trái phiếu và cổ phiếu
Trái phiếu và hàng hóa là một invese relationship
Như có nói trong phần viết về thị trường trái phiếu, giá trái phiếu tỉ lệ nghịch với lợi tức của chính nó. Lợi tức lại chính là mặt trái trái của lạm phát, trong khi giá cả hàng hóa lại là chỉ báo đầu tiên của lạm phát. Kết quả cuối cùng là giá trái phiếu đi ngược với xu hướng của giá cả hàng hóa. Vì mối quan hệ ngịch chiều khăng khít giữa trái phiếu và lợi tức cho nên trong những phân tích liên thị trường, người ta thường dùng lợi tức để thay thế cho giá trái phiếu. Kết quả là bond yield thường đi cùng chiều với commondity price nói chung. Đây là một trong những mối quan hệ liên thị trường căn bản quan trọng nhất. Bắt đầu từ mối quan hệ này mới hình thành nên các mối tương quan giữa các bộ phận thị trường khác như tiền tệ và thị trường vốn.
Đặc đểm của quy tắc này là nó thường đúng trong dài hạn hơn là ngắn hạn. Có nghĩa đâykhông phải là một day by day correlation. Quan hệ này nếu xét riêng từng ngày một thì chưa chắc đúng. Nhưng nếu xét cả xu hướng thì sẽ đúng nhiều hơn. Điều này ám chỉ đây là một mối quan hệ nền tẳng làm định hướng dịch chuyển các món hàng đơn lẻ, các bộ phân cấu thành khác của thị trường. Hay nói một cách dễ hiểu, đây là mối quan hệ đóng vai trò xác định xu hướng của toàn thị trường tài chính nói chung. Các vận động của các món hàng khác có thể đi chệch khỏi quy luật của nó trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn thì xu hướng của nó sẽ tuân theo sự định hướng của mối quan hệ giữa trái phiếu và hàng hóa nói chung.01 moi quan he giua chi so TRY và loi tuc trai phieu 30 nam cua my
Biểu đồ trên cho thấy trong phần lớn thời gian lợi tức trái phiếu chính phủ Mỹ có cùng xu hướng với chỉ số hàng hóa TR/J-CRB (Thomson Reuters/Jefferies CRB indexđiều này có nghĩa là giá cả hàng hóa đi ngược với giá trái phiếu bởi vì giá trái phiếu đi ngược với lợi tức của nó mà. Cũng chính vì nguyên lý này nên tâm tư mấy người trade hàng hóa là cực kỳ bullish on yield. Khi thấy lợi tức tăng cao thì người ta tìm về các món hàng hóa như GOLD, OIL, COPPER or bộ ba đồng tiền hàng hóa để go long. Cùng với đó là các lớp tài sản mang tính trú ẩn trong thời kỳ khủng hoảng như đồng Yên Nhật sẽ ít được ưa chuộng hơn.
Giao dịch Gold
Một trong những loại hàng hóa mà các trader Việt mình hay giao dịch đó là Gold Spot. Lời khuyên cho các traders này là khi giao dịch nên nhìn sang biểu đồ của bond yield, điều mà các bác nên tìm thấy khi Go Long gold là yield đang tăng lên. Ngược lại khi go short gold thì đó nên là vào lúc yield giảm xuống. Lý do cho quy luật này là vì Gold là một trong những mặt hàng phản ứng với lạm phát nhanh nhất và mạnh nhất trong tất cả các loại hàng hóa nói chung. Một khi lạm phát (kỳ vọng) có dấu hiệu tăng trong nền kinh tế (= yield tăng), smart $ sẽ chạy về với Gold như là một tài sản tránh lạm phát an toàn nhất. Bài học này rất rõ trong các kỳ lạm phát dâng cao và năm 2008 là một thí dụ điển hình. Các bác nên phân biệt trường hợp này với trường hợp Gold tăng vì một rủi ro (fear) trong nền kinh tế. Trong trường hợp đó, Gold tăng và yield giảm. Gold tăng vì người ta chạy vào đó như tài sản trú ẩn và yield giảm vì người ta chạy vào bond như một bức tường thành trú ẩn cuối cùng. Hai hình ảnh nhưng là hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau. Một cái gold tăng vì kinh tế phát triển tạo ra lạm phát và một cái gold tăng vì lo sợ rủi ro (ví dụ địa chính trị, khủng hoảng kinh tế).
Khả năng phân biệt và hiểu được câu chuyện thị trường đang kể ẩn sau mỗi cái chart là một điểm phân biệt giữa một tay mơ và một tay nhà nghề. Muốn làm được thế, người trader phải biết cách nhìn liên thị trường, nhìn xuyên market. Đem các chart lồng vào nhau để hiện ra một kết quả chung. Từ đó là cơ sở suy luận ra câu chuyện của thị trường đang kể. Như trong thí trên khi nhìn hai thị trường là bond yield và gold nếu cả hai cùng tăng thì câu chuyện market đang kể có thể là một viễn ảnh lạm phát sẽ dâng cao trong tương lai; Yiled giảm mà gold tăng thì câu chuyện đó là một nỗi sợ về khủng hoảng kinh tế hay có thể là địa chính trị…
Hãy xem câu chuyện cơ bản thị trường đang kể trong bức hình dưới đây. Khoảng từ tháng 4 năm 2007 đến đầu năm 2008, mối lo về khủng hoảng tài chính toàn cầu đầy smart $ tìm về Gold và U.S bond làm cho gold tăng mạnh và U.S 10 year bond yield giảm mạnh (vùng tô màu thứ nhất). Đến khoảng đầu 2009 câu chuyện cơ bản lúc đó là bàn luận về gói cứu trợ định lượng QE của FED. Khi QE còn đang trên bàn tranh luận thì market đã kể câu chuyện của nó . Theo đó market tin rằng khi QE được thông qua thì lạm phát trong tương lai sẽ tăng. Gold là mặt hàng tránh lạm phát nên vì đó mà nó tăng mạnh, trong khi yield bond cũng tăng theo, lý do là vì người ta không còn cần chạy về yield trú ẩn nữa (vùng tô màu thứ hai).
Từ những biểu đồ liên thị trường này, người trader có thể biết được câu chuyện đang ăn khách nhất trên market. Từ câu chuyện này trader có thể xác định được những tin tức nào, sự kiện nào trở nên đặc biệt quan trọng hơn các tin tức, sự kiện khác. Trở lại thí dụ trên như trong thời kỳ tháng 4 năm 2007 đến đầu 2008 market trở nên quan tâm nhiều hơn đến các số liệu GDP và thất nghiệp. Bởi vì GDP là thước đo được xài để định nghĩa một kỳ suy thoái kinh tế. Trong khi đến giai đoạn tiếp sau là quãng đầu 2009, người ta lại nhìn chỉ số CPI nhiều hơn, lý do là vì câu hỏi người ta đang thắc mắc là lạm phát có hay không sau QE được thông qua.02 Gold vs Us 10 year bonds yield
Mối quan hệ nghịch đảo giữa hàng hóa và tiền tệ
Giá trị đồng tiền của một quốc gia trong dài hạn là biểu hiện sức mạnh của một nền kinh tế quốc dân. Một nền kinh tế tăng trưởng sẽ sản sinh một môi trường lạm phát. Lạm phát mà tăng lên thì phân lời (yield + lãi suất tăng lên). Phân lời mà tăng thì về căn bản giá trị đồng tiền tiếp tục tăng. Đồng tiền tăng giá quá cao sẽ lại bóp chết thương mại của nó, kéo nền kinh tế đi xuống. Kinh tế mà đi xuống thì lạm phát không có cửa tăng. Lạm phát không tăng thì phân lời cũng xuống theo, phân lời mà xuống thì người ta đi vay tiền làm ăn nhiều hơn, vay tiền làm ăn nhiều thì kinh tế đi lên, kinh tế đi lên thì bla bla… cái đó gọi là chu kỳ kinh tế sẽ được đề cập chi tiết trong phần sau. Ở đây chúng ta tập trung vào vai trò là sợi dây thun sâu chuỗi các bộ phận của thị trường tài chính lại với nhau của lạm phát và lãi suất.
Lý thuyết kinh tế là khi một đồng tiền mất giá sẽ đẩy giá hàng hóa lên cao. Và người ta gọi đó là một nền kinh tế lạm phát. Định nghĩa này căn bản rất chính xác. Nhưng nếu mang nguyên lý này vô trading thì từ chết đến bị thương. Lý do là bởi vì hướng đi của một đồng tiền trong ngắn hạn đi chung với hướng đi của lãi suất. Trong các thời kỳ lạm phát dâng cao như thế, central bank sẽ có xu hướng tăng lãi suất, và sự thật nhiều khi cũng không cần họ phải tăng lãi suất làm chi. Chỉ cần market kỳ vọng central bank sẽ tăng lãi suất là đồng tiền đó tăng giá lên theo. Đây mới là tư duy trading ăn tiền khi mua bán trong currency chứ không phải nguyên lý kinh tế căn bản.
Biểu đồ dưới đây cho thấy mức độ tương quan nghịch giữa chỉ số lạm phát CPI và sức mạnh đồng USD (thể hiện bẳng chỉ số Dollar index) là tương đố mờ nhạt. Hệ số tương quan theo tháng từ tháng 05 năm 2004 đến tháng 01 năm 2015 chỉ dừng ở mức -0.37 mà thôi. Với một mối tương quan yếu như vậy thì cho dù là lý thuyết kinh tế có nói gì đi nữa trader cũng đừng có tin theo. Chúng ta vô đây để make $ chứ không phải để tìm chuyện đúng sai của lý thuyết kinh tế.03 moi quan he mo nhat giua CPI và USD Index
Sử dụng chỉ số CRB index thay cho chỉ số CPI trong phân tích tương quan giữa thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ
Lý do là bởi vì mức độ tương quan giữa chỉ số CRB cao hơn hẳn so với chỉ số CPI. Trong khi hệ số tương quan nghịch giữa chỉ số dollar và Cpi chỉ là âm 0.37 thì mức độ tương quan của nó trong cùng khoảng thời gian tương ứng là âm 0.51 với chỉ số CRB (hình 6.5). Điều này có nghĩa rằng, xét trên phương diện lý thuyết kinh tế vĩ mô thì chỉ số CRB index thể hiện tốt hơn so với chỉ số CPI. Nhưng một nghịch lý diễn ra là, market hiện thời lập tập trung cao độ hơn vào chỉ số CPI. Điều này có nghĩa là khi tiến hành phân tích xu hướng xác lập chung của hai thị trường này. Để nắm được xu hướng thật sự chúng ta dùng chỉ số CRB index, nhưng để thực hiện lệnh mua bán thì chúng ta nhìn vận động CPI sẽ tốt hơn.
Một tiểu xảo khi tiến hành phân tích liên thị trường giữa hàng hóa và tiền tệ là không nên xét chỉ số giá hàng hóa toàn thị trường chung mà chỉ nên tập trung vào một số nhóm hàng hóa tiên phong. Tùy thuộc vào mỗi chu kỳ kinh tế mà sẽ có những món hàng tăng giảm giá nhiều hơn những món hàng khác. Gold và oil là hai trong số những hàng hóa tiên phong nhất trong toàn thị trường hàng hóa nói chung, nên khi tiên hành phân tích liên thị trường chúng ta nên thực hành riêng một phân tích hai món hàng này. Mối quan hệ nghịch đảo mạnh mẽ giữa Gold và USD đã được nói đến trong phần nói về đồng USD trong chương II nên không đề cập lại tại đây. Nhưng Oil là một mặt hàng có vai trò quan trọng hơn nữa trong bức tranh kinh tế tổng thể. Câu chuyện của Oil luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế. Cho nên sự tăng giảm của giá dầu nên được xem xét cẩn trọng trong bất cứ tình huống nào.04 Moi quan he giua thi truong hang hoa CRB va USD index
Mối quan hệ giữa thị trường trái phiếu và cổ phiếu
Đây là một trong những mối quan hệ căn bản gây khá nhiều tranh cãi bởi sự không nhất quán của nó. Trong cuốn sách Intermarket technical analysis của mình, John Murphy dành hẳn một chương trong đó để nói về mối quan hệ này. Điểm chính yếu trong chương sách đó là nhấn mạnh mối quan hệ cùng chiều giữa giữa giá trái phiếu và cổ phiếu. Trên phương diện lý thuyết kinh tế thì quan điểm này hoàn toàn không có sai. Thị trường chứng khoán luôn sợ một phân lời cao. Khi lợi tức tăng lên, giá trái phiếu sẽ giảm xuống và điều này nên được coi là bearish cho thị trường cổ phiếu. Lý thuyết kinh tế là như vậy, nhưng nếu đem mối quan hệ này đặt lên biểu đồ soi xét thì nó chắc đã đúng. Thực tế cho thấy có những khoảng thời gian, xu hướng giá chứng khoán đi cùng với lợi tức của trái phiếu. Sự giảm xuống của bond yield thường là tín hiểu cảnh báo sớm cho xu hướng đi xuống của thị trường vốn.
Biểu đồ dưới đây là một thí dụ cho luận điểm này. Theo đó lợi tức trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của Mỹ tăng song hành cùng với thị trường chứng khoán suốt từ năm 2003 đến giữa năm 2007, để rồi tạo mô hình hai đỉnh ở đó và đi xuống báo hiệu sự sụp đổ của thị trường chứng khoán ngay sau đó (hình 6.6). Quan hệ này vẫn còn đúng trong những năm tháng sau khủng hoảng và nó kéo dài đến tận năm 2014. Thời điểm hiện tại đang diễn ra một sự phân kỳ giữa bond yield và thị trường chứng khoán. Và nếu như vai trò dự báo của lợi tức vẫn còn hiệu quả thì rất có thể chứng khoán Mỹ sẽ go down trong những ngày sắp tới đây (hình 6.7).
Cách thức thực hiện phân tích mối quan hệ giữa hai thị trường này là xem xét cùng lúc xu hướng của cả hai thị trường trong khoảng từ 3 đến 5 năm năm. Ngay khi tương quan trong xu hướng này thay đổi (đang từ cùng chiều thành nghịch đảo or đang nghịch đảo thành cùng chiều) thì cũng là lúc chúng ta nên cẩn trọng. Đó có thể là khởi đầu của một xu hướng mới.05 Mo hinh 2 dinh du bao US stock crash06 Moi quan he giua trai phieu va co phieu
Bản chất phân tích liên thị trường thật sự là việc xác định chu kỳ kinh tế.
Chu kỳ kinh tế là sự biến động nền kinh tế theo trình tự suy thoái, phục hồi, hưng thịnh và bùng nổ. Tùy thuộc vào mỗi giai đoạn của nền kinh tế sẽ có nhưng bộ phận cấu thành, ngành, món hàng chiếm ưu thế hơn những bộ phận, ngành, món hàng còn lại. Việc xem xét vận động của tất cả các bộ phận cấu thành của thị trường tài chính dưới con mắt liên thị trường không nằm ngoài mục đích xác định xem nền kinh tế đang nằm trong giao đoạn nào của chu kỳ tăng trưởng của chính nó.
Trong cuốn sách của mình Asset Allocation Review, tác giả Martin Pring chia chu chu kỳ kinh tế chi tiết ra thành sáu giai đoạn. Và tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm này của ông, giai đoạn một được tính từ khi nền kinh tế bắt đầu đi vào suy thoái được biểu hiện bởi sự suy giảm lợi tức trái phiếu (bond price tăng, cổ phiếu và hàng hóa giảm), và kết thúc ở giai đoạn sau khi cả ba bộ phận cấu thành là bond, stock và commondity cùng suy giảm.07 business cycle
Theo đó dưới góc nhìn liên thị trường có thể chi tiết lại một chu kỳ kinh tế sẽ bao gồm có sáu hiai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Trái phiếu tăng (lợi tức, cổ phiếu, hàng hóa giảm)
Giai đoạn 2: Cổ phiếu tăng (trái phiếu tăng trong khi hàng hóa vẫn giảm)
Giai đoạn 3: Hàng hóa tăng ( bond, stock và commondity cùng tăng)
Giai đoạn 4: Trái phiếu giảm (lợi tức, cổ phiếu và hàng hóa vẫn tăng)
Giai đoạn 5: Cổ phiếu giảm (trái phiếu giảm và hàng hóa tăng)
Giai đoạn 6: Bond, stock và commondity cùng giảm
Chu kỳ quay trở lại bước 1. Đây có thể được xem là một chu kỳ tiêu chuẩn trong phân tích kinh tế. Tuy nhiên thực tế nền kinh tế hiếm khi diễn ra đúng như lý thuyết bên trên mà trong nhiều trường hợp nó sẽ có độ trễ nhất định. Do đó các pha có thể bị lệch đi ít nhiều tùy từng thời kỳ. Đây là điểm cần lưu ý khu sử dụng mô hình của Pring làm chuẩn so sánh để xác định hiện trạng chu kỳ kinh tế.
Tổng kết năm nguyên tắc giao dịch liên thị trường của John Murphy:
Phân tích liên thị trường là một dạng nghiên cứu phân tích dựa vào mối quan hệ giữa 4 thị trường tài chính thế giới gồm trái phiếu, cổ phiếu, tiền tệ và hàng hóa. Nó thường là “bàn đạp” cho các nhà phân tích trước khi phân tích một thị trường riêng lẻ nào đó. Tuy nhiên, nhiều trader hiện nay lại chưa chú ý đến điều này, trước khi đi vào phân tích thị trường riêng lẻ, họ thường không phân tích xu hướng thị trường chính của 3 thị trường còn lại. Việc nắm bắt được những xu hướng này sẽ giúp bạn hiểu được chúng đã thật sự tác động như thế nào đến thị trường chính mà bạn đang đầu tư. Lời kết chương này tôi xin trích dẫn 5 nguyên tắc chủ đạo về sự tác động qua lại của các loại tài sản khác nhau của John Murphy:
Nguyên tắc đầu tiên : Hãy chắc rằng đồng Dollar đang bị rớt giá, trước khi quyết định mua hàng hóa.
Có một sự đối lập giữa thị trường hàng hóa và giá Dollar, nếu bạn đang dự định mua hàng hóa, hãy chắc ràng đồng dollar đang giảm giá trước đã. Cách tốt nhất để nhận diện điều này là theo dõi các biểu đồ chỉ số đồng Dollar trên 6 loại ngoại tệ khác nhau ( VD: USD/CAD, USD/JPY, …) Điều này đồng nghĩa với việc giá hàng hóa cũng sẽ tăng khi giá các loại ngoại tệ khác dollar tăng, đặc biệt là đồng Dollar Úc và Dollar Canada. Tương tự như vậy, các trader trên thị trường tiền tệ cũng nên để ý đến xu hướng của thị trường hàng hóa, sẽ thật sai lầm nếu chỉ phân tích riêng lẽ một trong hai thị trường trên mà không quan tâm đến cái còn lại. Trong tất cả các loại hàng hóa, thì đồng Dollar nhạy cảm nhất đối với Vàng. Tất nhiên bạn sẽ phải trả giá rất đắt nếu bạn có ý định mua Vàng trong lúc Dollar đang tăng.
Nguyên tắc thứ hai : Mua hàng hóa khi cổ phiếu tăng
Giá cổ phiếu và hàng hóa có xu hướng chuyển động cùng chiều trong suốt một thập kỉ vừa qua, đặc biệt là từ năm 2008. Đó là bởi vì cổ phiếu và hàng hóa đều có thể đo lường được sức mạnh của nền kinh tế, một sự gia tăng về cầu của hàng hóa hay cổ phiếu cũng đồng nghĩa với sự hiện diện mạnh mẽ của nền kinh tế đó. Các hàng hóa như Đồng hay Dầu rất nhạy cảm với nền kinh tế toàn cầu. Trong khi vật liệu, năng lượng và kim loại quý thậm chí còn có tương quan mạnh mẽ hơn với thị trường cổ phiếu. Do đó có thể thấy được rằng, thời điểm tốt nhất để mua hàng hóa là khi giá cố phiếu đang trong xu hướng tăng và ngược lại. Một sự sụt giảm đồng Dollar sẽ tiếp thêm “sức mạnh” cho cả 2 thị trường này.
Nguyên tắc thứ ba : Mua cổ phiếu khi trái phiếu giảm
Cổ phiếu và trái phiếu thường có xu hướng trái ngược nhau và điều này đã được chứng minh trong suốt thập kỷ qua. Việc xác định giá trái phiếu có đang giảm hay không là rất quan trọng khi một nhà đầu tư tiến hành mua cổ phiếu, cả trái phiếu và cổ phiếu đều là những phần không thể thiếu trong danh mục đầu tư của họ. Trader mua cổ phiếu khi họ cảm thấy lạc quan về nền kinh tế, mua trái phiếu khi cảm thấy nền kinh tế bi quan hoặc do cổ phiếu đang giảm giá. Một tín hiệu bán tin tưởng của trái phiếu thường cũng chính là một tín hiệu mua tốt của cổ phiếu ( và ngược lại ). Kể từ khi 2 thị trường này có một mối tương quan chặt chẽ, sẽ là sai lầm khi nhà đầu tư tiến hành giao dịch trên một trong hai thị trường mà không quan tâm đến thị trường còn lại.
Nguyên tắc thứ tư : Sử dụng tỷ số Cổ phiếu/ Trái phiếu khi “dịch chuyển”ngành
Thị trường chứng khoán được phân thành 10 ngành chính với độ hấp dẫn khác nhau tùy theo cổ phiếu hay trái phiếu cái nào đang tốt hơn. Khi cổ phiếu hấp dẫn hơn trái phiếu, những ngành mang tính chu kỳ ( như tiêu dùng không thiết yếu, công nghiệp, và kỹ thuật ) thường dẫn đầu thị trường. Ngược lại khi trái phiếu hấp dẫn hơn cổ phiếu, những ngành có cổ phiếu phòng vệ như tiêu dùng thiết yếu, y tế, và công ích lại dẫn đầu thị trường. Sử dụng tỉ số S&P500 chia cho Lợi suất trái phiếu 10 năm là cách tốt nhất để so sánh mối tương quan giữa hai thị trường. Khi tỉ số Cổ phiếu/ Trái phiếu tăng, hãy nhìn vào các ngành tăng trưởng, còn khi tỉ số này giảm, hãy chú tâm đến các ngành mang tính “phòng vệ”. Những ngành có liên quan tới thị trường hàng hóa cũng sẽ tăng khi tỉ số này tăng.
Nguyên tắc thứ năm : Dành sự chú ý đến thị trường chứng khoán nước ngoài
Các thị trường chứng khoán trên thế giới có mối liên kết rất mạnh mẽ. Đó là lý do tại sao phải xem xét đến chúng, vì nó cũng sẽ gần như cùng hướng với thị trường chứng khoán Mỹ. Một sự sụp giảm thị trường chứng khoán toàn cầu sẽ gây tổn hại đến tất cả mọi người. Xu hướng của thị trường chung châu Âu giúp ta biết được tình hình nợ xấu tại đó đang diễn biến như thế nào, từ đó ảnh hưởng đển thị trường Mỹ ra sao. Cũng cần chú ý nhiều hơn tới những thị trường mới nổi, chúng có mối quan hệ rất mật thiết với thị trường hàng hóa. Kể đến là sự ảnh hưởng rất lớn từ thị trường chứng khoán Trung Quốc đến thị trường chứng khoán và hàng hóa toàn cầu. Sự xuất diện của các quỹ ETFs sẽ giúp ta dễ hơn rất nhiều trong việc nhận biết được xu hướng của các thị trường nước ngoài.
SHARE

Investment with tVinh

  • Image
  • Image
  • Image
  • Image
  • Image
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét:

Đăng nhận xét