Bốn bộ phận cấu thành thị trường tài chính: Bonds, Commodity, Currency, Stock (Trái phiếu, Hàng hóa, Tiền tệ, Chứng khoán).

Bốn bộ phận cấu thành thị trường tài chính: Bonds, Commodity, Currency, Stock (Trái phiếu, Hàng hóa, Tiền tệ, Chứng khoán).

Thị trường trái phiếu
Dưới con mắt của trader, trái phiếu là một mỹ danh từ của NỢ. Hiểu đơn giản người phát hành trái phiếu chính là con nợ. Người mua trái phiếu chính là chủ nợ. Để có thể vay được nợ, đòi hỏi con nợ phải có khả năng trả được nợ (không có ai vẫn cho vay khi biết chắc rằng người vay sẽ giựt nợ hay không có khả năng trả nợ). Khả năng trả nợ của con nợ được đánh giá qua UY TÍN của chính con nợ đó và danh từ nhà nghề gọi đó là hạng mức tín nhiệm (credit rating), hạng mức này được phân loại từ cao đến thấp. Theo Standard & Poor’s hạng mức tín nhiệm cao nhất là AAA cho những tổ chức, người vay có khả năng trả được nợ cao nhất và thấp nhất D cho những ai đã và sẽ vỡ nợ. Hạng mức tín nhiệm càng cao thì uy tín của người đi vay nợ càng cao, uy tín cao thì rủi ro vỡ nợ hay xù nợ thấp, rủi ro này thấp thì chi phí hay lãi suất phải trả cho chủ nợ thấp. Chính vì nguyên lý này mà lợi tức trái phiếu của các chính phủ có xếp hạng tín nhiệm cao như Mỹ luôn thấp hơn rất nhiều các quốc gia mới nổi như Việt Nam có hạng mức tín nhiệm thấp. Đây là một trong những yếu tố căn bản quyết định bond yield.
Yield (lợi tức) chính là linh hồn của bond, cho nên mọi phân tích về bond đều xuất phát từ phân tích yield. Xét trên phương diện trading, bonds là một thứ vũ khí vừa để tấn công, vừa để phòng thủ. Gọi là tấn công là như thế này: khi CẢM NHẬN (kỳ vọng) của market về nền kinh tế sẽ tốt lên trong tương lai, người ta sẽ mạnh dạn vay nợ (phát hành bond) làm ăn hơn. Điều này làm cho số người đi vay trong thị trường tăng lên, số người đi vay tăng lên thì khả năng vay được tiền càng ít đi, do đó để cạnh tranh vay được tiền thì người đi vay phải trả lãi suất cao hơn ( tức là cho yield cao hơn). Trong trường hợp như trên, yield tăng phản ảnh NIỀM TIN vào nên kinh tế sẽ tốt lên trong tương lai. Ngượi lại, gọi bonds là vật phòng thủ là vì: Bonds khác với stock ở chỗ bonds về bản chất là nợ trong khi stock mang hàm ý góp vốn làm ăn chung. Nợ gắn liền với trách nhiệm phải trả, khác với stock, người bán stock không có tránh nhiệm BẮT BUỘC phải trả trong trường hợp làm ăn thất bại như với BOND. Do đó người ta còn chạy vào bond vì ba chữ rủi ro thấp. Khi rủi ro tăng cao người ta tìm về với bond, đặc biệt là bond của những quốc gia có tín nhiệm cao. Ví dụ gần đây nhất là khủng hoảng tài chính năm 2008, mặc dù trung tâm cuộc khủng hoảng là tại Mỹ nhưng người ta vẫn tìm về với Uncle Sam để cho vay tiền (mua bond từ U.S Treasury), dẫn chứng cho điều này là lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Mỹ giảm từ mức cao nhất 5.2% vào tháng 01/2007 xuống mức thấp gần 2% năm 2009.01 nhu cau chay vao trai phieu my tru an day loi tuc giam
Người ta tránh bão, nhưng lại chạy vào trung tâm cơn bão là vì Mỹ khi đó dù bị hạ mức tín nhiệm từ AAA xuống AA+ nhưng nhìn quanh thế giới, Mỹ vẫn là quốc gia có UY TÍN ( xếp hạng) thuộc hàng cao nhất với một nền kinh tế mạnh nhất. Nhiều người tìm về bond sẽ làm xuất hiện trên thị trường nhiều người cho vay. Nhiều người có nhu cầu cho vay thì xác xuất cho vay được thấp đi. Do đó người đi vay sẽ yêu cầu một mức lợi tức thấp thấp hơn khi vay vốn, yield vì thế mà giảm. Trong trường hợp như thế, bond đóng vai trò là vật phòng thủ.
Trader nhà nghề thường coi vận động của bond spread (or bond yield) để suy đoán market sentiment (tâm lý thị trường or cảm nhận) về nền kinh tế tương lai. Trong hầu hết các trường hợp, khi yield tăng lên có nghĩa là cảm nhận của market về kinh tế trong tương lai sẽ sáng sủa hơn. Tức là kinh tế sẽ tăng trưởng. Mặt trái của tăng trưởng lại là lạm phát, hệ quả của lạm phát là vật giá leo thang. Do đó, các nhà giao dịch hàng hóa thành công thường coi rất kỹ những vận động của bond yield. Khi yield tăng lên, họ kỳ vọng giá hàng hóa sẽ tăng theo và ngược lại.
Có nhiều cách phân loại bond. Nhưng trên phương diện trading, bond thường được phân loại theo kỳ hạn. Bond đáo hạn dưới 2 năm là ngắn hạn, đáo hạn trong khoảng 3 đến 7 năm là trung hạn và trên 7 năm là dài hạn. Do bản chất bond là nợ nên về lý thuyết nếu kỳ hạn càng dài thì rủi ro càng tăng, rủi ro tăng sẽ yêu cầu một mức lãi suất đi vay cao hơn. Vì thế, thông thường bond có kỳ hạn càng dài thì yield càng cao và bond có kỳ hạn ngắn thì yield càng thấp. Trong trường hợp như thế, nếu người ta đem bond yield của các mức kỳ hạn khác nhau sắp xếp theo thứ tự từ kỳ hạn ngắn đến kỳ hạn dài thì sẽ được một Normal yield curve ( đường cong lợi tức dạng chuẩn). Yield curve được mệnh danh là cây đũa thần trong nền kinh tế, gọi là cây đũa thần vì những vận động KHÁC THƯỜNG của yield curve có thể dự báo chính xác tới 86% trước mỗi cuộc khủng hoảng ( thống kê từ đại khủng hoảng 1929 đến nay). Tôi nhấn mạnh hai chữ khác thường để nói đến hình ảnh của một Inverted yield curve ( đường cong lợi tức đảo ngược). Inverted yield curve xuất hiện khi điều nghịch lý xảy ra là bond có kỳ hạn càng dài thì yield lại càng thấp. Cứ mỗi khi dạng này xuất hiện thì kinh tế sắp bước vào một kỳ khủng hoảng hay ít ra là một thời kỳ điều chỉnh giảm ( xác xuất dự báo này của yield curve đúng tơi 86% nếu thống kê từ 1929 đến nay). Quá trình chuyển hóa từ một normal yield curve sang một inverted yield curve thường sẽ đi qua 1 giai đoạn gọi là Flatten yield curve. Flatten yield curve có nghĩa là đường cong lợi tức dạng phẳng, nó xảy ra khi lợi tức của các kỳ hạn khác nhau tương đối bằng nhau. Đây thường là giai đoạn chuyển mình trong nền kinh tế từ đỉnh cao tăng trưởng bước vào suy thoái. Việc theo sát những vận động của yield curve sẽ cung cấp cho trader cái nhìn sớm hơn về thị trường. Đem lại những ưu thế mà các công cụ khác không thể có được.02 3 hinh thai yield curve
Trên phương diện chủ thể phát hành, người ta còn phân loại ra trái công ty ( Corporate bond) và trái phiếu chính phủ (Government bond). Tuy nhiên, hình ảnh bond xuất hiện trong bức tranh liên thị trường luôn là trái phiếu chính phủ. Lý do căn bản cho sự thiên lệch này nằm ở quy mô và tính an toàn vượt trội của trái phiếu chính phủ so với trái phiếu công ty. Vì điều này nên những lý thuyết nền tẳng căn bản vừa nói đến bên trên, và những đề cập trong phần sau của cuốn sách về bond (nếu có) đều là các đặc tính của Government bonds. Lý thuyết về bond là vô cùng rộng. Tuy nhiên, trong khuôn khổ nội dung cuốn sách này tôi sẽ chỉ tóm lược những khái niệm căn bản cần thiết nhất để một người mới có thể đưa bond vào trong bức tranh phân tích liên thị trường. Những khái niệm sâu hơn như định giá bond sẽ không được đề cập tại đây. Bạn đọc nào muốn tìm hiểu sâu thêm thì vui lòng google check or email cho tui sau, tôi sẽ trả lời trong phạm vi kiến thức của mình. Phần lý thuyết về bonds xin dừng tại đây để chuyển qua tìm hiểu về một bộ phận cấu thành thứ hai là thị trường tiền tệ.
Thị trường tiền tệ
Đọc giả của cuốn sách này phần lớn nếu không muốn nói là tất cả đều là currency trader. Các bạn là những người trực tiếp tham gia mua bán hàng ngày trên currency market. Và trò chơi trong market này của retail trader chúng ta luôn là một zero sum game. Zero sume game có nghĩa là một trò chơi có tổng bằng không. Tổng bằng không là bởi vì tiền của người thắng đến từ túi của người thua. Đặc tính này của forex trading làm cho nhiều người, đặc biệt là những người mới tham gia lầm tưởng đây chỉ là một dạng “cờ bạc” không hơn không kém.
Một trader khi có đầy đủ những hiểu biết căn bản về thị trường này như các bộ phận cấu thành, đối tượng tham gia, phương thức hoạt động và vai trò của thị trường tiền tệ trọng nền kinh tế đều biết rằng đây không phải là một “ sòng bài”- nơi chỉ có các con bạc sát phạt lẫn nhau tương tự như hành động mua đi bán lại các cặp tỉ giá của Joe- retail trader. Currency market thật sự là một bộ phận cấu thành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Việc tham gia vào đây một cách nghiêm túc luôn đòi hỏi những hiểu biết căn bản về nó. Thiếu đi những hiểu biết này, người trader thật sự chỉ là một gambler.
Currency market (Forex market) là một thị trường được xếp ngang hàng với bond market nếu chỉ xét về tính quy mô. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất giữa hai thị trường này là: trong khi bond market là real money thì currency market là leverage. Leverage tức là đòn bẩy, đòn bẩy thì đi kèm với rủi ro. Xuất phát từ bản chất đó cho nên currency market là một trong những thị trường khốc liệt nhất trong tất cả các thị trường của financial market. Sự kiện cháy tài khoản không phải là hiếm trong đây. Trading trong một market như thế càng đòi hỏi trader phải có những kỹ năng đặc biệt hơn.
Sự hiện diện của thị trường này xuất phát từ những nhu cầu mua bán, trao đổi, phòng hộ và đầu tư thực tế của các thành phần tham gia trong nền kinh tế thế giới. Một quốc gia ở vùng đất EURO muốn mua gạo của Việt Nam sẽ cần phải dùng đồng EUR mua đồng VND trước đó. Qua đó làm cầu của đồng VND tăng lên, cầu tăng lên làm cho đồng VND tăng giá. Một công ty Việt Nam muốn nhập khẩu linh kiện điển tử của công ty Nhật cần phải dùng đồng tiền Việt Nam quy đổi ra đồng Yên Nhật trước khi nhập hàng…
Tỉ giá hối đoái (exchange rate) là một biến số luôn luôn thay đổi, sự thay đổi của nó làm phát sinh rủi ro cho lợi nhuận các công ty trên phương diện làm ăn kinh tế. Chính vì lẽ đó, thành phần tham gia vào currrency market còn là các đại công ty. Họ vào đây không phải vì mục đích mua bán kiếm lợi nhuận ngắn hạn như trader nhỏ lẻ chúng ta. Mà họ bước vô đây với mục đích phòng hộ rủi ro biến động của tỉ giá.
Trên phương diện đầu tư quốc tế, một nhà đầu tư ở Mỹ muốn mua cổ phiếu HAG (tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai của bác Đức) sẽ cần phải chuyển đổi USD ra VND trước khi tiến hành mua bán. Quá trình chuyển đổi này góp phần làm tăng giá trị VND và giảm giá Obama $.
Giá trị đồng tiền của một nước phụ thuốc vào chính nền kinh tế của quốc gia đó. Khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ làm tăng giá trị của đồng tiền bản địa và ngược lại. Nếu linh hồn của bond là yield thì linh hồn của currency lại là RATE. Rate ở đây chính là interest rate (lãi suất). Trong hầu hết các trường hợp vận động thay đổi của lãi suất sẽ quyết định sự tăng giảm của đồng tiền cơ sở. Một sự tăng lên trong lãi suất sẽ làm tăng giá đồng tiền, một sự giảm trong lãi suất sẽ làm giảm giá trị của nó. Lãi suất là một biến số vĩ mô quan trọng. Mặt trái của lãi suất chính là lạm phát. Trong các thời kỳ tăng trưởng quá nóng, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa tăng cao thường sẽ đẩy lạm phát lên theo vật giá. Sự gia tăng lạm phát là nguyên nhân làm mất giá đồng tiền gây ảnh hưởng đến các biến số vĩ mô khác. Để chống lại sự mất giá tiền tệ đó, một trong những biện pháp phổ biến và thường hay được dùng đó là tăng lãi suất ( chính sách tiền tệ thắt chặt).Trong trường hợp ngược lại, vào những thời kỳ kinh tế trì trệ, các central bank trên thế giới thường áp dụng chính sách lới lỏng, một trong các cách thức lới lỏng đó là hạ lãi suất.
Trading thành công trong currency market thường đòi hỏi trader phải dõi theo các vận động của lãi suất. Do đó, hành động của các ngân hàng trung ương, các phát biểu của quan chức central bank là những sự kiện luôn được trader theo dõi chặt chẽ.
Động thái lãi suất đồng tiền của một quốc gia cơ bản được quyết định bởi các ngân hàng trung ương nước đó. Các central bank thường đưa ra các quyết định về lãi suất trên cơ sở xem xét các biến số vĩ mô quan trọng. Một trong các biến số đó là chỉ số lạm phát. Lạm phát trong kinh tế thông thường được đo bằng hai cách. Trên phương diện tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ người ta có chỉ số CPI (consummer price index), trên phương diện sản xuất hàng hóa người ta có chỉ số PPI (produce price index). Chi tiết về CPI và PPI đã được nói đến ở chương III nên không bàn tại đây nữa. Tiếp theo, chúng ta chuyển qua một bộ phận cấu thành quan trọng thứ ba là thị trường hàng hóa.
Thị trường hàng hóa
Commondity market trong cấu thành của financial market nói chung và trong bức tranh liên thị trường nói riêng không phải là một thị trường sản xuất hàng hóa thông thường, đây là một thị trường giao dịch hàng hóa thuần túy. Điều này có nghĩa đây thật sự là các giao dịch tài chính dựa trên việc mua bán các sản phẩm hàng hóa mà thôi. Các giao dịch đó có thể được thực hiện thông qua giá giao ngay (spot trading), giá hợp đồng tương lai (futures contracts) hoặc các hợp đồng quyền chọn (options) về hàng hóa…
Hình thái giao dịch phổ biến và lâu đầu nhất của thị trường hàng hóa là các hợp đồng tương lai. Trong khi GOLD mà các bác mua bán hàng ngày trong MT4 là một spot trading thì OIL lại là một futures contract. Khi giao dịch trong thị trường hàng hóa các bạn cần chú ý phân biệt hai hình thái này. Bởi vì trong khi các sản phẩm giao dịch spot được giao dịch liên tục thì các futures như oil lại có kỳ hạn giao dịch nhất định. Oil future trong MT4 mà các bạn giao dịch có kỳ hạn là một tháng. Trước khi các hợp đồng này hết hạn một ngày thì các sản phẩm này ngừng giao dịch và các hãng broker sẽ tự động đóng vị thế giao dịch của bạn. Vì đặc điểm này của future contracts nên rất thường thấy hiện tượng profit taking khi gần đến thời điểm forced closing của brokerage.
Cây thước đo đại diện cho thị trường hàng hóa là chỉ số CRB index ( Commondity Research Bureau index). Có hai cách tính toán để hình thành nên chỉ số này. Cách thứ nhất là người ta tính nó dựa trên giá của thị trường giao ngay và cách thứ hai là tính dựa trên giá hợp đồng tương lai của hàng hóa. Hai cách tính này cho ra hai chỉ số CRB có giá trị khác nhau nhưng tựu chung lại thì xu hướng tăng giảm của chúng đều thể hiện lạm phát trong nền kinh tế.
Đây là một chỉ số gồm có 22 món nguyên liệu thông dụng nhất trong kinh tế. Giá trị của 22 món hàng này rất nhạy cảm với sự thay đổi của kinh tế. Một khi sự thay đổi của kinh tế vì lý do lạm phát thì giá trị của các món hàng này thay đổi rất mau. Ngoài ra, các món nguyên liệu được chọn làm thành viên của chỉ số này hầu hết điều là các chất nguyên liệu nguyên thủy, hoàn toàn chưa được bào chế thành một sản phẩm tiêu thụ. Lý do mà người ta chọn các nguyên liệu ở giai đoạn trên là vì người ta không muốn thấy giá của nó bị ảnh hưởng bởi các giá khác cộng vào khi món hàng trở thành một sản phẩm tiêu dùng. Thí dụ dể hiểu nhất là cao su. Từ mủ trên cây đến khi nó biến thành một vỏ xe hơi hay một món đồ nào đó thì giá cả thật sự của cao su không còn nữa. Thêm vào đó là một số giá thành được cộng vào, từ chi phí bào chế đến chuyên chở v….v. Chỉ số này nguyên thủy được tính bằng giá spot market. Spot market là giá mua ngay tại chỗ, không có chi phí phân lời vay mượn hay chi phí tồn kho tính vào. Nghĩa là đây là một giá sát thật tế nhất mà người ta có thể mua được. Giá được tính theo lối này để tránh đi mọi sự thay đổi trong giá không xuất phát từ lạm phát mà ra, vì đây là một chỉ số đo lạm phát lâu đời nhất của kinh tế Hoa Kỳ.
Hai mươi hai món hàng đó được chia ra làm hai loại: Raw Materials & Foods. Raw materials tạm dịch là đồ chưa được chế biến. Foods là thực phẩm. Hai mươi hai món đó gồm các thứ như sau:
Nguyên Liệu Nguyên Thủy: Burlap, Copper scrap, Cotton, Hides, Lead scrap, Print cloth, Rosin, Rubber, Steel scrap, Tallow, Tin, Wool tops, Zinc.
Thực phẩm: Butter, Cocoa beans, Corn, Cottonseed oil, Hogs, Lard, Steers, Sugar, Wheat.
Một điều xin lưu ý về chỉ số này. Đây là một trong những chỉ số lâu đời nhất trong các chỉ số kinh tế Hoa Kỳ. Nếu tính theo dòng lịch sử thì nó xuất phát từ thập niên 30, trong giai đoạn Great Depression của Hoa Kỳ. Vì thế phương pháp và các món hàng chọn lựa cũng nhiều khi không còn phù hợp với thời gian cho lắm, theo thiển ý của tôi. Cho nên mặc dầu nó là một trong những chỉ số chính để đo mức độ lạm phát trong kinh tế, đặc biệt là loại lạm phát gọi là COMMODITY-INDUCED INFLATION, các kinh tế gia hiện tại vẫn xài chỉ số CPI làm chỉ số chính.
Thị trường cổ phiếu (Theo VC)
Thị trường cổ phiếu hay thị trường chứng khoán là một bộ phận phát triển của kinh tế. Nó giúp quốc gia phát triển kinh tế, bằng cách tạo công ăn việc làm cho quốc gia, qua hình thức giúp các công ty gây vốn. Nói cụ thể ra là như thế này. Chu kỳ phát triển của một công ty thường khởi đầu bởi người sáng lập bỏ vốn riêng của mình ra, hay là vay mượn bà con chút ít. Giai đoạn đầu đó có thể làm một công ty nhỏ nhỏ. Nếu làm ăn được và cần tiền phát triển thêm thì người đó có thể đi mượn tiền nhà banks. Nhưng nếu cần tiền phát triển thật lớn thì nhiều khi nhà banks không có đủ, hay không dám cho mượn. Tại vì sự kiện cho một thương gia mượn tiền làm ăn, nó cũng giống như là bỏ vốn vào làm ăn chung với người ta. Tùy rằng mình không có ý hùn hạp, nhưng nếu người đó làm ăn thất bại sau khi mượn tiền thì sao?
Danh từ nhà nghề gọi đó là BUSINESS RISK. Và nhà bank không muốn cái business risk này. Cho nên người thương gia đó mới quay sang thị trường chứng khoán để tìm nguồn vốn đầu tư cho công ty của mình. Ngược lại, các nhà đầu tư khi mua cổ phần của công ty là họ CHẤP NHẬN cái rủi ro trong business của công ty đó. Họ không cho công ty mượn tiền giống như nhà bank, nhưng họ lại bỏ tiền vào công ty qua hình thức mua cổ phần. Số tiền cổ phần bán được này sẽ được đem về dùng vào việc phát triển công ty. Sự phát triển của công ty sẽ đòi hỏi việc mướn thêm người, tạo thêm công ăn việc làm cho kinh tế. Và ngược lại, chánh phủ cũng có thêm tiền thuế hàng năm. Đó là tại sao thường nói, căn bản của thị trường chứng khoán là sự phát triển của kinh tế.
SHARE

Investment with tVinh

  • Image
  • Image
  • Image
  • Image
  • Image
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét:

Đăng nhận xét