Một số tài liệu hay về đầu tư giá trị

Một số tài liệu hay về đầu tư giá trị

TheIntelligentInvestor2.jpg ​
Để học về đầu tư giá trị thì không gì tốt hơn là đọc 2 cuốn sách của Benjamin Graham "Security Analysis" và "The Intelligent Investor". Tuy nhiên hai cuốn sách này không chỉ dài mà còn rất khó đọc với tiếng anh cổ và cách viết cô đọng của Graham. Theo tôi được biết thì hai cuốn này cũng rất khó đọc đối với những người có tiếng anh là tiếng mẹ đẻ. Người ta nói rằng trong thế giới tài chính thì cuốn "The Intelligent Investor" là cuốn sách được nhiều người đọc nhất và cũng là cuốn bị nhiều người bỏ qua nhất. Cuốn "Security Analysis" thậm chí còn có ít người đọc hơn nữa kể cả trong cộng đồng các nhà đầu tư giá trị. Rõ ràng là không nhiều người có khả năng tu luyện các bí kíp này. ^_^

Trong khi nội công chưa đủ để lĩnh ngộ được hai tuyệt kỹ của Graham, tôi cho rằng chúng ta có thể tìm đọc một số sách của các nhà đầu tư giá trị nổi tiếng đương thời. Hi vọng chúng sẽ cũng cấp những con đường dễ đi hơn để gia nhập vào môn phái đầu tư giá trị. Sau đây là một số tài liệu mà tôi cảm thấy rất có giá trị.

Margin of Safety: Risk-Averse Value Investing Strategies for the Thoughtful Investor.
Cuốn sách được viết bởi Seth Klarman có giá trên 1000 USD tại trang Amazon. Cuốn sách này chỉ được xuất bản một lần với số lượng có hạn, tuy nhiên bạn có thể download được ebook trên mạng :). Klarman hiện đang quản lý trên 29 tỷ USD tại Baupost Group, ông là một những người mà Buffett hâm mộ và là người mà cụ Buffett hi vọng sẽ quản lý tài sản giúp cụ khi cụ nghỉ hưu. Có thể nói Klarman đã viết một quyển sách cực hay chứa đựng rất nhiều triết lý và các phương pháp của đầu tư giá trị. Điều tuyệt vời là ngôn ngữ trong sách rất dễ hiểu và cuốn sách chỉ gói gọn trong 250 trang.

The Most Important Thing Uncommon Sense for the Thoughtful Investor.
Cuốn sách được viết bởi Howard Marks, là người sáng lập và quản lý quỹ Oaktree capital. Oaktree hiện đang quản lý khoảng trên 77 tỷ USD. Buffett đọc tất tần tật những điều mà Marks viết thì bạn đủ thấy giá trị những điều mà Marks viết ra. Cuốn sách này bao gồm khoảng 18 điều mà Marks cho rằng là quan trọng nhất đối với một nhà đầu tư. Cá nhân tôi cho rằng đây chính là 18 chiêu thức nội gia tâm pháp cho một nhà đầu tư giá trị. ^_^

"When I see memos from Howard Marks in my mail, they're the first thing I open and read. I always learn something, and that goes double for his book". (Warren Buffett, Chairman and CEO, Berkshire Hathaway )

Buffett Partnership Letters
- Đây các lá thư mà Buffett gửi cho các cổ đông của mình từ năm 1957-1969: giai đoạn khởi nghiệp của cụ Buffett. Đọc các là thư này phần nào giúp chúng ta hiểu được các chiêu thức cơ bản mà cụ Buffett sử dụng những năm đầu sự nghiệp.

Ngoài ra còn có một trang web hay, có nhiều thông tin về đầu tư giá trị như:
- Valuewalk.com
- GuruFocus.com
- Csinvesting.org
Đây là một số tài liệu mà em thấy hay vậy tuyệt kỹ đầu tư giá trị mà các bác thấy thú vị nhất là gì?


Những triết lý đầu tư để đời của tỷ phú Warren Buffett

Những triết lý đầu tư để đời của tỷ phú Warren Buffett
Warren Edward Buffett sinh ngày 30/8/1930 Warren Edward Buffett sinh ngày 30/8/1930 tại Omaha, tiểu bang Nebraska, Mỹ. Ông được biết đến là một trong những nhà đầu tư thành công nhất thế giới, là chủ tịch và CEO của tập đoàn khổng lồ Berkshire Hathaway.
Buffett nổi tiếng với biệt danh "Huyền thoại đến từ Omaha" hay "Nhà tiên tri xứ Omaha' do sự kiên định trong triết lý đầu tư. Ông được ca tụng bởi những phát biểu mang tính triết lý sâu sắc đã trở thành "kim chỉ nam" cho các nhà đầu tư khắp thế giới.
Vietnam Finance xin điểm lại những câu nói kinh điển nhất về đầu tư của vị tỷ phú này.
Những triết lý đầu tư để đời của tỷ phú Warren Buffett
1. Đừng chỉ quan tâm đến giá khi mua một cổ phiếu
“Sẽ là khôn ngoan hơn nhiều nếu mua được một công ty tuyệt vời với mức giá vừa phải, hơn là mua một công ty vừa phải với một mức giá tuyệt vời”.
2. Một nhà đầu tư giỏi không cần phải là một thiên tài
“Bạn không cần phải là một nhà khoa học tên lửa. Đầu tư không phải là một trò chơi mà một người với chỉ số IQ 160 thắng một người có chỉ số IQ 130”.
3. Tuy nhiên, phải nắm vững những điều căn bản
“Để đầu tư thành công, banh không nhất thiết phải hiểu chỉ số beta, lý thuyết thị trường hiệu quả, thuyết danh mục đầu tư hiện đại, định giá quyền chọn hay thị trường mới nổi. Thậm chí, không biết còn tốt hơn dù đây là những lý thuyết phổ biến tại các trường kinh doanh. Theo quan điểm của tôi, sinh viên chỉ cần học tốt hai thứ là làm thế nào để định giá một doanh nghiệp và làm thế nào để nhận định giá cả thị trường”.
4. Đừng mua một cổ phiếu chỉ vì tất cả mọi người ghét nó
"Nếu bạn chọn mua một cổ phiếu, hay một công ty chỉ vì nó ít được ưa chuộng, đó hoàn toàn không phải là hành động thông minh. Bạn cần phải suy nghĩ chứ đừng chọn bừa. Nhưng thật không may, theo quan sát của nhà triết học Bertrand Russell, phần lớn mọi người thà chết còn hơn là phải nghĩ".
5. Những điều tồi tệ không hiện rõ ở những thời điểm tốt
“Xét cho cùng, chỉ đến khi thủy triều hạ thì bạn mới có thể phát hiện ra ai đi bơi mà không mặc đồ bơi mà thôi”.
6. Thời điểm tốt nhất để mua một công ty là khi nó đang gặp nguy
"Điều tuyệt vời nhất bạn có thể nắm bắt là một công ty lớn gặp khó khăn tạm thời. Chúng tôi muốn mua những công ty như thế khi chúng đang "nằm trên bàn phẫu thuật".
7. Hãy tham lam khi người khác sợ hãi
“Các nhà đầu tư nên ghi nhớ rằng, sự hưng phấn và các khoản chi phí là kẻ thù của họ. Và nếu họ cứ một mực đòi xác định thời điểm để tham gia vào thị trường chứng khoán, thì hãy tập sợ hãi khi kẻ khác tham lam, và chỉ tham lam khi kẻ khác sợ hãi”.
8. Bỏ qua các yếu tố chính trị và vĩ mô khi chọn cổ phiếu
"Các dự đoán liên quan đến chính trị và vĩ mô sẽ khiến nhà đầu tư và doanh nghiệp phân tâm. Ba mươi năm trước, chẳng ai có thể đoán được những vấn đề như Tổng thống từ chức, Liên Xô tan rã hay Dow Jones giảm tới hơn 500 điểm một ngày.
Tuy nhiên, chẳng sự kiện nào khiến Ben Graham thay đổi nguyên tắc đầu tư của mình. Chúng cũng không ngăn được các thương vụ mua bán doanh nghiệp tốt với giá hời. Hãy tưởng tượng bạn sẽ mất bao nhiêu tiền nếu phải hoãn hoặc thay đổi kế hoạch đầu tư vì những nỗi sợ hãi vô danh. Trên thực tế, những thương vụ tốt nhất của chúng ta lại được thực hiện khi nỗi sợ hãi về các sự kiện vĩ mô lên đỉnh điểm".
9. Cổ phiếu càng có nhiều giao dịch, lợi nhuận kiếm được càng giảm
"Nhà bác học Isaac Newton đã tìm ra 3 định luật về chuyển động. Nhưng tài năng thiên bẩm của ngài Isaac không áp dụng được ở lĩnh vực đầu tư. Ngài ấy đã mất cả đống tiền khi đầu tư vào cổ phiếu của hãng vận tải South Sea và về sau, nhà bác học đã lý giải về sự thua lỗ này rằng: "Tôi có thể tính toán được chuyển động của các vì sao, nhưng không  đo lường được sự điên rồ của con người". Nếu không vì sự cố thua lỗ này, ngài Isaac rất có thể đã nghĩ ra định luật chuyển động thứ tư: Với các nhà đầu tư nói chung, lợi nhuận giảm khi chuyển động (giao dịch) càng nhiều”.
10. Đừng ngốc nghếch với cảm giác “cô bé Lọ Lem” khi thu được lợi nhuận lớn
“Ranh giới không bao giờ rõ ràng giữa đầu tư và đầu cơ khi các thành phần tham gia thị trường đều tận hưởng chiến thắng. Chẳng có gì che mờ lẽ phải như những khoản tiền khổng lồ không phải cố gắng nhiều mà có. Một khi đã kiếm tiền dễ như thế, thông thường những người nhạy cảm sẽ có cách hành xử giống như nàng Lọ Lem vội vã chạy khỏi bữa tiệc.
Họ biết rằng, ở lại quá lâu trong đêm hội, cũng giống như việc tiếp tục đầu cơ vào những công ty có mức giá cổ phiếu quá lớn so với mức lợi nhuận mà những công ty đó có thể đạt được trong tương lai, rốt cuộc sẽ chỉ đem đến quả bí ngô và những chú chuột.
Tuy nhiên, họ vẫn không muốn bỏ lỡ một phút nào của buổi tiệc đó. Vì thế, họ chỉ rời bỏ buổi tiệc vài giây trước khi đồng hồ điểm 12 giờ đêm. Nhưng lại có một vấn đề ở đây, là họ đang khiêu vũ trong một căn phòng mà những chiếc đồng hồ ở đó không có kim”.

10 tiêu chí chọn lọc và 8 phương châm đầu tư của Benjamin Graham

10 tiêu chí chọn lọc và 8 phương châm đầu tư của Benjamin Graham
Nhà đầu tư giá trị (value investor) được định nghĩa một cách nôm na là những người tìm kiếm cổ phiếu bị thị trường định giá thấp hơn giá trị của nó. Có nhiều cách để tìm cổ phiếu loại này:
1. Dùng những tiêu chuẩn để chọn lọc. Cổ phiếu nào qua được màng lọc này là cổ phiếu đáng để đầu tư. Chiến lược này vì thế được gọi là chiến lược đầu tư giá trị bằng cách chọn lọc thụ động (passive screening value investing).
2. Chiến lược đầu tư giá trị nội tại (intrinsic value investing), nhà đầu tư mua vào cổ phiếu khi thị giá thấp hơn giá trị nội tại do họ (hay tư vấn của họ) ước tính.
3. Đầu tư vào những cổ phiếu mà hầu như không ai dòm ngó đến vì kết quả kinh doanh kém, vì giá quá thấp. Đây là chiến lược đầu tư giá trị - đối nghịch (contrarian value investing).
4. Cách của các nhà đầu tư chủ động (activist value investing). Họ đầu tư vào những cổ phiếu có tiềm năng nhưng có giá trị thấp do việc quản lý, điều hành của công ty yếu. Sau khi đầu tư, họ sẽ thay đổi cách quản lý, bởi họ có vốn đủ lớn để ảnh hưởng đến việc điều hành và quản trị của công

 

Benjamin Graham - "Sư tổ" về phân tích chứng khoán

Ông là cha đẻ của công cụ "Mr Market" (để ngầm chỉ một sự thật rằng giá cả chứng khoán có sự dao động rất lớn, và chính điều này sẽ mang lại cho những nhà đầu tư khôn ngoan cơ hội để mua khi giá giảm và bán khi giá tăng). Ông là nhà quản lý đầu tư và nhà giảng dạy về tài chính xuất sắc. Ông được toàn thế giới thừa nhận như là cha đẻ của hai phương pháp đầu tư cơ bản – phân tích cổ phiếu và đầu tư giá trị. Ông là thày và là người cố vấn dày dạn kinh nghiệm cho tỷ phú Warren Buffet cũng như nhiều nhà đầu tư nổi tiếng khác. Bản thân Warren Buffet cũng thừa nhận rằng trong ông có đến 85% Ben Graham.

 

Chiến lược đầu tư giá trị

Benjamin Graham, người thành công trong nhiều vai trò như nhà phân tích tài chính, nhà đầu tư, giảng viên, là đồng tác giả cuốn sách Security Analysis (phân tích chứng khoán). Đây là cuốn sách đặt nền tảng cho trường phái đầu tư giá trị và là sách gối đầu giường cho những nhà đầu tư dài hạn. Trong cuốn sách này, Benjamin Graham đã đưa ra 10 tiêu chuẩn để chọn cổ phiếu.

10 tiêu chuẩn chọn lọc
1 - Tỷ số lợi nhuận/thị giá (E/P) cao gấp đôi lãi suất trái phiếu xếp hạng AAA (AAA là hạng mức tín dụng cao nhất dành cho trái phiếu của các công ty).
2 - P/E của cổ phiếu thấp hơn hoặc bằng 40% so với P/E của toàn thị trường.
3 - Tỷ suất cổ tức/giá của cổ phiếu (dividend yield) lớn hơn 2/3 của lãi suất trái phiếu xếp hạng AAA.
4 - Giá trị vốn hóa của công ty nhỏ hơn 2/3 giá trị sổ sách của tài sản hữu hình.
5 - Giá trị vốn hóa của công ty nhỏ hơn 2/3 giá trị tài sản lưu động ròng.
6 - Tỷ số nợ/vốn chủ sở hữu theo giá trị sổ sách nhỏ hơn 1.
7 - Tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn ít nhất 2 lần.
8 - Toàn bộ nợ nhỏ hơn 2 lần giá trị tài sản lưu động ròng.
9 - Tỷ suất lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS) tăng trưởng 7%/năm trở lên trong vòng 10 năm qua.
10 - Công ty có sự tăng trưởng lợi nhuận hàng năm ít nhất 7 lần trong vòng 10 năm qua.

Cổ phiếu nào vượt qua 10 điều kiện sàng lọc trên, theo Benjamin Graham, là những cơ hội đầu tư giá trị tuyệt vời. Nhà nghiên cứu Henry Oppenheimer đã phân tích kết quả của những cổ phiếu đạt 10 tiêu chuẩn của Benjamin Graham trong giai đoạn 1974 - 1981, kết quả là tỷ suất lợi nhuận của những cổ phiếu này cao gấp nhiều lần tỷ suất lợi nhuận của những cổ phiếu khác trên thị trường. Một số người sử dụng 10 tiêu chuẩn này nhưng nội dung có khác đi đôi chút nhằm phù hợp với hoàn cảnh thị trường hay theo ngành đặc thù. Chúng ta cũng có thể làm tương tự như vậy để áp dụng tại thị trường Việt Nam.

8 phương châm
Ngoài 10 tiêu chuẩn chọn lọc trên, Benjamin Graham còn có 8 phương châm về đầu tư giá trị và một công thức tính giá trị cổ phiếu mang dấu ấn riêng của ông. Tác giả Janet Lowe, trong cuốn sách viết về tiểu sử của Benjamin Graham, đã tổng kết 8 phương châm như sau:
1 - Hãy là một nhà đầu tư, đừng là một nhà đầu cơ. Benjamin Graham định nghĩa nhà đầu tư là người mua và sở hữu cổ phiếu dài hạn, trong khi nhà đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn
2 - Quan trọng nhất là mua với giá bao nhiêu. Mua cổ phiếu của một công ty tốt nhất thị trường về hoạt động, về các chỉ số tài chính vẫn có thể là một đầu tư sai hoặc không hiệu quả nếu chúng ta mua với giá quá cao.
3 - Truy tìm những cơ hội giá hời. Thị trường sẽ luôn có lỗi trong việc định giá cổ phiếu.
4 - Luôn thận trọng với những con số tài chính do công ty cung cấp. Thỉnh thoảng vẫn có những công ty cố tình không đạo đức.
5 - Đa dạng hoá đầu tư. Đừng quá tập trung vào một số ít cổ phiếu.
6 - Hãy thực hiện quyền cổ đông của mình. Nhiều nhà đầu tư đã không thực hiện quyền cổ đông của mình mà bỏ ngỏ công ty cho các nhà điều hành. Nhà điều hành đôi khi hành động theo lợi ích của họ, hay lợi ích của một nhóm cổ đông nào đó, mà không hoạt động vì lợi ích của cả công ty.
7 - Hãy kiên nhẫn. Phương châm này củng cố phương châm 1.
8 - Phải có tính kỷ luật. Chỉ mua cổ phiếu khi thị giá thấp hơn giá trị được xác định theo công thức sau:
Giá trị = EPS x (2 x tốc độ tăng trưởng năm + 8,5) x Lãi suất TPCP/lãi suất trái phiếu AAA
Ví dụ: Một cổ phiếu có EPS là 3 USD, tăng trưởng 10% năm, trong khi đó lãi suất trái phiếu chính phủ là 5% và lãi suất trái phiếu của công ty xếp hạng tín dụng AAA là 6%. Giá trị của cổ phiếu này sẽ là:
Giá trị = 3 x (2 x 10 + 8,5) x 5/6 = 71,25 USD

Theo Benjamin Graham, chúng ta chỉ nên mua cổ phiếu này khi thị giá thấp hơn 71,25 USD.
Lưu ý, nếu áp dụng trên TTCK Việt Nam, chúng ta có thể tạm giả sử rằng, lãi suất trái phiếu công ty xếp hạng AAA sẽ cao hơn 1,5% so với lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm (đây là gợi ý của riêng tác giả). Nghĩa là, nếu lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm là 8% thì lãi suất trái phiếu AAA có thể tạm ấn định ở mức 9,5%. Về tỷ số 8,5, chúng ta cũng có thể thay đổi cho phù hợp. Nhà đầu tư thận trọng có thể dùng 8,5, nhưng nhà đầu tư không ngại rủi ro có thể áp dụng ở mức 9, tối đa là 9,5.

Hầu hết các tổ chức và các NĐT lớn luôn luôn sử dụng phương pháp đầu tư giá trị. Phương pháp chiến lược chọn cổ phiếu của Benjamin Graham được sử dụng phổ biến trên thế giới kể cả Việt Nam. BST Group luôn luôn nghiên cứu những chiến lược của các tổ chức để hiểu được động thái của thị trường. BST Group đã ng/c chiến lược trên và điều chỉnh để phù hợp với TTCK Việt Nam. Nếu chỉ đưa nguyên một công thức vào TTCK thì ai cũng có thể làm giàu rất dễ dàng. Thực tế sự việc không đơn giản như vậy. BST Group sẽ giới thiệu đến quý NĐT trong thời gian tới và sẽ tính toán tư vấn cho NĐT dài hạn trường vốn.

PHÚC LONG LÀ KẺ BÁN TRÀ

PHÚC LONG LÀ KẺ BÁN TRÀ
Ban đầu, trà đào là món trà túi lọc. Ngon đấy, nhưng quá bình thường. Lipton còn có cả món trà đào hoà tan. Túi lọc thì có gì nổi bật chứ.
 ecoblader - trà đào
ecoblader - trà đào
Phúc Long là kẻ bán trà. Lá trà. Trà túi lọc. Rồi sao nữa? Thêm chút sữa vào xem sao. Khá hơn rồi đấy. Trà sữa đào. Thơm mùi đào, béo mùi sữa. Hương vị tinh tế hơn hẳn món trà sữa ngoài đường. Nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Sữa chưa đủ hấp dẫn. Sữa chưa thể mang tên tuổi Phúc Long lên một tầm cao mới.
Cần một cái gì đó khác.
Phúc Long là kẻ bán trà. Trà đào. Khoan đã, đào à? Làm sao để có được chữ “đào” một cách hoàn chỉnh đây? Không thể dùng trái đào tươi được. Không đồng đều, không vệ sinh. Đúng rồi, phải là đào đóng hộp. Không phải là mứt. Mứt không đủ hương vị tươi ngon. Chỉ có thể là đào đóng hộp. Phải là một loại thượng hạng, tuy đắt nhưng phải ngon. Là loại nào nhỉ? Phải rồi. Phải là món đào nổi tiếng nhập khẩu từ Nam Phi, đào hộp Gold Reef.
Người ta nói đắt xắt ra miếng. Người người sẵn lòng trả số tiền không rẻ cho ly trà đào để thưởng thức món đào Gold Reef. Nhiều người uống cả ly nước chỉ để thưởng thức miếng đào này.
Thấy ngon ăn, nhiều kẻ muốn bắt chước.
Anh có gì hay chứ. Tôi có nguồn đào rẻ tiền hơn và giá rẻ hơn anh. Tôi pha chút hoá chất mùi đào, thêm vài miếng đào ngâm bình dân, giá cực rẻ. Nhưng mà quái, làm kiểu nào cũng không giống được.
Người ta không hiểu đào mới là nhân vật chính.
Phúc Long là kẻ bán trà. Nhưng đào mới là nhân vật chính. Đào rất đắt. Ly nước dĩ nhiên đắt. Không sao cả. Người người sẵn sàng trả cho chữ “đắt” vì miếng đào đó. Và Phúc Long bán được ly đào trà.
Người ta cứ nghĩ sản phẩm mình bán phải là nhân vật chính, và thế là họ chỉ chăm chăm vào nhân vật chính. Tại sao sản phẩm của ta phải là nhân vật chính chứ? Người ta nói Phúc Long bán trà. Nhưng không phải. Phúc Long có trà ngon, nhưng trà chỉ là nhân vật phụ. Đào mới là ngôi sao. Người ta mua đào trà mà cứ nghĩ mình đang mua trà đào. Cứ mỗi khi đào được bán, trà sẽ đi theo.
Và rồi người ta vẫn tưởng Phúc Long vẫn là kẻ bán trà.

Khả năng xác định và vượt qua được trạng thái tâm lý trong đầu tư

Khả năng xác định và vượt qua được trạng thái tâm lý trong đầu tư
Đầu tư chứng khoán thành công là một điều khó, nhưng nó không đòi hỏi nhà đầu tư chứng khoán phải là một thiên tài trong việc phân tích, lựa chọn cổ phiếu, hay hiểu biết sâu sắc về vĩ mô, mà nó liên quan đến những điều đơn giản hơn, nhưng ít được chú ý đến. Đó là “Khả năng xác định và vượt qua được trạng thái tâm lý trong đầu tư”.
Huyền thoại đầu tư Warren Buffett đã có một câu nói rất nổi tiếng về hành vi của nhà đầu tư: “Success in investing doesn’t correlate with I.Q.. Once you have ordinary intelligence, what you need is the temperament to control the urges that get other people into trouble in investing” (tạm dịch là “Thành công trong đầu tư không tương quan đến chỉ số IQ, tất cả những gì bạn cần là sự kiểm soát để không rơi vào rắc rối khi đầu tư”). Thực tế, có rất nhiều loại hình đầu tư như cổ phiếu, quyền chọn, bán khống (ở Việt Nam chưa cho phép các loại hình đầu tư này), hoặc theo thu nhập cố định. Nhưng chính khả năng xác định và kiểm soát được tâm lý khi đầu tư (blind spots) của mình sẽ giúp thành công. Dưới đây là 10 điều thuộc về tài chính hành vi (bahavioral finance) nhà đầu tư thường gặp và nên tránh khi đầu tư:

1. Overconfidence (Sự quá tự tin)
Điều này thể hiện qua sự tin tưởng rằng chúng ta thông minh hơn hoặc có khả năng hơn thực tế mà chúng ta có. Ví dụ: có đến 82% người nói rằng họ thuộc 30% những người lái xe an toàn nhất, hoặc họ chắc chắn đến 90% rằng họ biết rõ điều đó mặc dù họ chỉ thực tế biết khoảng dưới 70%. Trong đầu tư, Overconfidence dẫn nhà đầu tư đến việc họ có thể tự tin là tìm được Apple hoặc Priceline Inc.( Apple và PriceLine Inc. đã tăng giá 5,3 và 14 lần trong 5 năm gần đây) thứ hai. Nhưng thực tế, họ không thể. Ngoài ra, họ tự tin rằng họ thông minh hơn nhà đầu tư khác ở vị thế ngược lại và họ không tính toán đến những chi phí khi giao dịch như: phí giao dịch, thuế, chênh lệch mua bán (Bid-ask Spread) khi tiến hành một khoản đầu tư. Overconfidence có nguyên nhân do việc phải ra quyết định rất nhanh khi bị bao vây bởi rất nhiều thông tin trong thị trường chứng khoán và dựa trên những thành công trước đây. Để vượt qua điều này, chúng ta phải luôn thừa nhận rằng những gì chúng ta biết ít hơn những gì chúng ta nghĩ chúng ta biết rõ (We all know less than we think we do) và luôn sẵn lòng học hỏi, thảo luận và phân tích những sai lầm đã qua. Điều quan trọng hơn, để sự quá tự tin này không làm ảnh hưởng đến đầu tư, chúng ta phải xây dựng một danh mục đa dạng hóa và không đánh cược quá trên bất kỳ một ý tưởng hoặc khoản đầu tư nào trong danh mục đầu tư. Đôi lúc chúng ta cũng chiến thắng trên những lý do sai lầm nhưng chính điều này sẽ ghi nhận trong tâm trí và sẽ ảnh hưởng trong lần đầu tư tiếp theo. Vậy để thành công trong đầu tư, không phải là kiếm thông tin tốt hơn mà chính là phải tìm kiếm những giá trị từ các thông tin hiện hữu một cách sáng suốt và có lý hơn, tức là trở thành nhà đầu tư thông minh hơn.

2. Selective Memory (Trí nhớ chọn lọc)
Con người thường né tránh khi nhớ về những sai lầm hoặc kinh nghiệm thất bại trong quá khứ mặc dù chính mình đã gây nên. Trong đầu tư, nhà đầu tư thường không muốn nhớ những cổ phiếu đã gây ra thua lỗ mà chỉ nhớ có chọn lọc những khoản đầu tư thắng lợi để tự thỏa mãn và bảo vệ hình ảnh của chính mình. Nguyên nhân của “Selective Memory” có thể do tâm trí quá tập trung vào những chứng cứ hiện tại mà quên mất những chứng cứ trong quá khứ dẫn đến quyết định đầu tư sai lầm. Để tránh sai lầm từ “Selective Memory” và “Overconfidence” , nhà đầu tư nên ghi nhận lại kết quả đầu tư (thắng hoặc thua). Điều này giúp chúng ta nhận thấy phần lớn khoản đầu tư của chúng ta đều ở trạng thái không tốt trong một thời kỳ.

3. Self- Handicapping (Tự cản trở mình – đối lập với Overconfidence)
Self-Handicapping xảy ra khi chúng ta cố gắng giải thích tương lai ảm đạm với những lý do có thể đúng hoặc không đúng. Khi chúng ta cảm thấy không tốt để bắt đầu một buổi trình bày thì chắn chắn buối trình bày đó sẽ không tốt. Self – Handicapping & Overconfindence đều ảnh hưởng đến sự thành công trong đầu tư.

4. Loss Aversion (Ám ảnh thua lỗ)
Nhiều nhà đầu tư cảm thấy ám ảnh khi một khoản đầu tư thua lỗ mặc dù phần còn lại của danh mục đầu tư là an toàn. Loss aversion khiến nhà đầu tư không dám thực hiện đầu tư. Để tránh cảm giác loss aversion, nhà đầu tư nên đa dạng hóa danh mục đầu tư, mở lòng và học hỏi kiến thức để luôn tìm thấy cơ hội phía trước.

5. Anchoring (Mỏ neo)
Khi chúng ta hỏi một cư dân của TP.HCM về dân số của Hà Nội, họ có xu hướng dùng con số dân cư của TP.HCM họ biết và điều chỉnh xuống và áp cho dân số của Hà Nội. Như vậy là không đúng. Khi dự báo một điều không rõ, chúng ta có xu hướng dính chặt với những gì chúng ta biết. Trong đầu tư, khi một cổ phiếu giảm giá, nhà đầu tư có xu hướng “dính” với giá mà họ đã mua cổ phiếu đó và các yếu tố khác như thu nhập cổ phiếu cao, thị phần tốt trước khi nó giảm giá, họ quyết định không bán khi tình thế thay đổi, và chờ nó trở về giá hòa vốn ban đầu. Nhưng thực tế điều đó không xảy ra. Ví dụ như DELL từng là một công ty thống trị ngành máy tính trong 2 thập niên, nhưng lợi thế đó không còn và đã lỗi thời thì tại sao chúng ta lại giữ DELL trong danh mục đầu tư? Nhà đầu tư nên tự hỏi mình: “Khoản đầu tư này có đem lại lợi nhuận không? Nếu không, tại sao lại phải giữ nó?”. Trả lời một cách thật lòng, nhà đầu tư có một quyết định hợp lý.

6. Sunk Costs (chi phí chìm)
Chúng ta bỏ 100 đồng để mua một vé xem kịch và cảm thấy vở kịch này thật kinh khủng. Nhưng vì chính mình bỏ tiền ra mua vé, nên chúng ta có xu hướng xem đến hết vở kịch. Song nếu vé xem kịch được cho bởi một người khác thì chúng ta dễ dàng quyết định ra về giữa chừng. Trong đầu tư, khi chúng ta dành nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu một cổ phiếu, dù nhận thấy đó là khoản đầu tư không tốt nhưng về bản năng chúng ta lại thích nó do đã dành nhiều thời gian cho nó, nên chúng ta có xu hướng chọn nó.

7. Confirmation Bias (Xu hướng khẳng định – Bảo thủ)
Khi sở hữu một chiếc xe Honda, ta có xu hướng tin tưởng những thông tin ủng hộ nó hơn là những thông tin đối lập. Trong đầu tư, khi mua một Quỹ đầu tư chuyên về những cổ phiếu ngành y tế, chúng ta có xu hướng thích hoặc cường điệu hóa về về ngành Y tế và phớt lờ/ giảm bớt những thông tin không tốt về ngành đó mà chúng ta nghe được. Để tránh thất bại này, chúng ta nên tìm kiếm thông tin cả hai phía. Điều này sẽ giúp chúng ta không bị trói chặt vào bất kỳ một ý tưởng nào, quyết định độc lập hơn và ngăn tình trạng “falling in love with a stock”. Xa hơn, chúng ta sẽ có cơ hội tìm thấy lý do khoản đầu tư của chúng ta là sai và có cơ hội sửa sai sớm hơn.

8. Mental Accounting
Khi chơi bài roulette với 100 đồng và bất ngờ thắng 200 đồng, chúng ta có xu hướng sẽ chơi tiếp với 200 đồng này vì đó không phải là tiền của chúng ta. Việc ta không phải cực nhọc kiếm 200 đồng đó dễ dàng khiến ta đồng ý với việc đánh rủi ro với nó. Một ví dụ khác: nếu chúng ta ở quận 1 và dự định mua 1 cái tivi với giá 500 đồng tại quận 1, nhưng khi biết ở quận 3 chỉ bán với giá 400 thì chúng ta có xu hướng di chuyển xuống quận 3 để mua vì tiết kiệm được 100 đồng. Nhưng nếu mua một chiếc xe máy với giá 5.000 đồng tại quận 1 và 4.900 tại quận 3, ta lại có xu hướng mua luôn tại quận 1, mặc dù sẽ mất đi 100. Để tránh điều này, nhà đầu tư nên tính toán Total return on investment (ROI) trên các khoản đầu tư của mình.

9. Herding (Tính bầy đàn)
Có hàng ngàn cổ phiếu và chúng ta không thể biết rõ hết về chúng. Chúng ta thường xuyên bị bao vây bởi những thông tin từ môi giới, các kênh truyền thông, bạn bè…, trong đó có những thông tin nghe có vẻ hấp dẫn hơn so với cổ phiếu mà chúng ta đang giữ. Thực tế, một cổ phiếu khi được chú ý bởi số đông do sự tăng giá của nó chứ không vì sự cải thiện nội tại của doanh nghiệp. Và chúng ta có thể tránh sai lầm khi chúng ta lựa chọn cổ phiếu cẩn thận hơn, và tránh xa đám đông hoặc các tin đồn để tránh những khoản đầu tư không theo mục tiêu đầu tư của mình.

10. Recency Bias
Là suy nghĩ cho rằng những xu hướng hoặc mô hình trong quá khứ gần sẽ lặp lại hoặc tiếp tục trong tương lai do vậy, những hành động trong tương lai sẽ dựa trên những nhận thức của quá khứ. Nhưng chúng ta đều biết, kinh tế cũng diễn biến theo chu kỳ. Thật may mắn cho những ai nắm giữ cổ phiếu của Home Depot, Lowe’s hoặc Paychex (Home depot đã tăng giá gấp 4 lần khi kinh tế Mỹ hồi phục trong 5 năm gần đây. Và Lowe’s đã tăng giá 2,5 lần kể từ 2009) ở thời điểm này. Chúng ta thường luôn phạm phải những sai lầm về hành vi khi đầu tư và điều này làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của chúng ta. Hiểu nó và nhận thức được những điểm mù (blind spots) này sẽ giúp chúng ta tránh được những sai lầm và đạt được mục tiêu tài chính.