Một số chiến thuật của những nhà kinh doanh cổ phiếu lớn tại thị trường Mỹ.

Một số chiến thuật của những nhà kinh doanh cổ phiếu lớn tại thị trường Mỹ.
Những chiến thuật này được đúc kết trong cuốn “Lessons from the Greatest Stock Traders of All Time” - tạm dịch “Những bài học từ những nhà kinh doanh cổ phiếu thành công nhất” của John Boik, và cuốn “The 21 rrefutable Truths of Trading”, tạm dịch “21 sự thật về kinh doanh cổ phiếu” của John Hayden.



1. Chiến thuật kinh doanh “không cảm xúc” và “phân tích cơ bản” của Bernard Baruh Bernard Baruh, xuất thân là nhân viên văn phòng của một công ty môi giới chứng khoán, là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công. Ông kiếm được bộn tiền nhờ vào dự đoán sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ vào năm 1907 và 1929. Không chỉ là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công, ông còn làm việc cho chính phủ của Tổng thống Woodrow Wilson.

Bernard Baruh quan niệm rằng thị trường chứng khoán phản ảnh tình hình kinh tế, chứ thị trường chứng khoán không quyết định được nền kinh tế. Và ông cũng tin tưởng mãnh liệt rằng, kết quả kinh doanh được quyết định bởi tâm lý của những người kinh doanh cổ phiếu. Ông sử dụng cái đầu “lạnh”, chứ không để cảm xúc len vào khi kinh doanh chứng khoán. Ông là người đầu tiên đưa ra chiến lược phân tích cơ bản trong kinh doanh. Trong đó ông nhấn mạnh đến ba yếu tố: độ lớn tài sản của công ty, giá trị của sản phẩm đối với người mua, và năng lực của ban lãnh đạo, trong việc chọn cổ phiếu của mình.

2. Chiến thuật “Kim tự tháp” và “Thăm dò” của Jess Livermore

Jess Livermore, xuất thân từ nhân viên của một công ty chứng khoán, là người có những chuỗi thành công và cả thất bại lớn trên thị trường kinh doanh chứng khoán. Ông cũng kiếm được cả núi tiền nhờ vào việc tiên đoán sự sụp đổ của thị trường vào năm 1907 và 1929. Tuy vậy, năm 1940, ngay sau khi ông viết cuốn sách nổi tiếng “How to Trade in Stocks”, ông bị thất bại, phá sản và tự tử.

Chiến thuật “Kim tự tháp” do ông phát triển: mua vào nhiều hơn những cổ phiếu đang tăng giá và bán ra những cổ phiếu đang rớt giá, là một trong những chiến thuật được các nhà kinh doanh cổ phiếu áp dụng cho đến bây giờ.

Chiến thuật thứ hai là chiến thuật “Thăm dò”. Trong chiến thuật này ông sẽ thực hiện việc mua có tính cách thăm dò một số cổ phiếu. Sau một thời gian ngắn, dựa vào hiệu quả lợi nhuận của những cố phiếu thăm dò này, hoặc là ông bán hẳn; còn không thì sẽ mua thật nhiều để đưa vào kim tự tháp của mình.

Jess Livermore, cũng giống như phần lớn các nhà kinh doanh cổ phiếu lớn khác, quyết định dựa vào nghiên cứu và phân tích của bản thân, chứ ít khi dựa vào tư vấn của các chuyên gia, hay các công ty tư vấn.

3. Chiến thuật “kinh doanh tập trung” và “hành động nhanh” của Gerald M. Loeb

Thừa hưởng một lượng tài sản lớn, Gerald Loeb có nhiều thuận lợi hơn các nhà kinh doanh, đầu tư khác.

Một điều khá lý thú là vào năm khi Benjamin Graham - một trong những “ông tổ” về đầu tư, viết cuốn “Phân tích chứng khoán”, kêu gọi các nhà đầu tư mua cổ phiếu và giữ lại để được nhận giá trị thật của cổ phiếu trong tương lai, thì Gerald M. Loeb viết cuốn “Chiến đấu cho sự tồn tại trên trị trường chứng khoán” với quan điểm hoàn toàn đối nghịch.

Ông quan niệm rằng, các nhà kinh doanh phải hết sức năng động trong việc mua bán, và thị trường là chiến trường. Trái với quan điểm truyền thống của đầu tư là đa dạng hóa danh mục đầu tư, chiến thuật của ông là “kinh doanh tập trung”, tức là chỉ mua một số loại cổ phiếu sau khi đã lựa chọn kỹ càng và chấp nhận rủi ro của những cổ phiếu đó.

Chiến thuật thành công thứ hai của ông là “hành động nhanh”. Ông luôn quyết định mua và bán thật nhanh trước khi những diễn biến lớn xảy ra.

4. Chiến thuật “Kỹ thuật và cơ bản” và “lý thuyết hộp” của Nicolar Darvas

Nicolar Darvas là một nhà kinh doanh nghiệp dư. Nghề nghiệp chính của ông là vũ công. Thế nhưng, với sự tập trung cao độ vào kinh doanh, ông đã kiếm được 2 triệu đô la, đó là số tiền lớn vào những năm 50 của thế kỷ trước.
Ông là người phát triển lý thuyết hộp. Theo lý thuyết này, giá cổ phiếu lên và xuống trong những giới hạn nhất định, và tạo ra một cái “hộp”. Đến một thời điểm nào đó, giá của cổ phiếu sẽ vượt qua cái hộp này, và tạo ra một cái “hộp” mới. Mua vào những cổ phiếu ngay giai đoạn nó thoát ly cái hộp cũ sẽ tạo ra những lợi nhuận cao.

Ông cũng là người đề ra phương pháp phân tích kỹ thuật - phối hợp với cơ bản. Tuy quan tâm cả hai, nhưng ông nghiêng về yếu tố kỹ thuật - chuyển động của giá, và số lượng cổ phiếu mua bán - hơn là yếu tố cơ bản - tình hình kinh doanh và năng lực quản lý cảu nguồn vốn

5. Chiến lược CANSLIM của William J. O’Neil

Xuất thân là một người môi giới chứng khoán, William O’Neil trở thành nhà kinh doanh thành công và vẫn tiếp tục kinh doanh cho đến bây giờ.
Ông là người sáng lập tờ Investor’s Business Daily và viết nhiều sách về đầu tư và kinh doanh cổ phiếu. Ông là người phát triển lý thuyết kinh doanh chứng khoán gọi là CANSLIM. Theo lý thuyết này của ông, giá một cổ phiếu sẽ chuẩn bị tăng khi có một hay nhiều đặc điểm sau đây:

C - Current Quarter: Lợi nhuận trong quí tăng trưởng ít nhất 25%.
A - Annual Earning: Lợi nhuận năm tăng trưởng so với ba năm trước ít nhất 25%.
N - New Factors: Yếu tố mới, chẳng hạn sản phẩm mới, quản lý mới.
S - Supply and Demand: Khi lượng cổ phiếu giao dịch tăng cao.
L - Leader or Laggard: Giá cổ phiếu đi theo khuynh hướng những cổ phiếu hàng đầu.
I - Institutional Sponsorship: Khi các nhà đầu tư tổ chức mua và sở hữu.
M - Market Direction: Khi có 75% số cổ phiếu trên thị trường đi theo xu hướng của nó.

Những điểm quan trọng

Mặc dù những nhà kinh doanh thành công có những chiến thuật, chiến lược khác nhau nhưng họ chia sẻ những điểm chung sau:

- Cần có một khoản tiền dự trữ đề phòng những rủi ro. Khoản dự trữ này sẽ giúp nhà kinh doanh tiếp tục kinh doanh chứ không thụ động phụ thuộc vào kết quả của những “phi vụ trước.

- Cắt lỗ càng sớm càng tốt. Khi đã lỡ mua cổ phiếu bị xuống giá, cắt ngay. Không bao giờ giữ cố phiếu đang giảm giá và chờ giá sẽ cao trở lại.

- Mua giá cao và bán giá cao hơn. Để kinh doanh thành công, không chỉ là mua thấp bán cao, mà còn là mua giá cao và bán ra cao hơn.

- Đôi khi rút khỏi thị trường. Không phải lúc nào nhà kinh doanh cũng thành công, mà phải biết rút khỏi thị trường.

O’Neil, Darvas và Loeb thường không thích tham gia thị trường đang xuống giá, trong khi đó Livermore lại không tham gia khi thị trường đều đặn, bình ổn.
- Mua tập trung chứ không nên đa dạng hóa danh mục đầu tư.

- Quan tâm đặc biệt đến khối lượng giao dịch và giá. Đối với những nhà kinh doanh cổ phiếu, hai chỉ số này quan trọng hơn bất cứ chỉ số nào, kể cả P/E, các loại tỷ suất lợi nhuận.

- Sau khi thực hiện các phi vụ, phải bỏ thời gian phân tích để rút kinh nghiệm, tại sao mình thua hay thắng phi vụ đó.

- Cống hiến toàn thời gian. Để kinh doanh thành công, phải dành công sức, thời gian. Ngay cả trường hợp Darvas là vũ công nhưng cũng dành một thời gian lớn hàng ngày (trên 8 tiếng) để theo dõi và thực hiện việc kinh doanh.

- Thực hiện các cuộc nghiên cứu phân tích độc lập, các nhà kinh doanh cổ phiếu thành công phải biết tự nghiên cứu và phân tích, không nên dựa vào ý kiến tư vấn của người khác.

- Quyết định dựa vào dữ kiện, không dựa vào cảm xúc. Ví dụ như nhà kinh doanh không tiếc khi phải bán ra cổ phiếu, không quá mừng rỡ mà bán lúa non khi giá cổ phiếu vẫn còn đang lên.

- Quan trọng nhất là phải chấp nhận rủi ro. Một chiến lược đầu tư gọi là hiệu quả khi có thể giảm thiểu rủi ro và tăng cao lợi nhuận. Trong khi đó, các chiến lược kinh doanh hầu như phải chấp nhận mức rủi ro cao vì chính rủi ro cao đó là nguồn gốc của lợi nhuận cao. Nhà kinh doanh vì vậy phải chấp nhận những phi vụ thất bại, và đừng nên kỳ vọng rằng lúc nào họ cũng thắng được thị trường.

24 bài học giá trị trong giao dịch cổ phiếu từ thiên tài Nicolas Darvas

24 bài học giá trị trong giao dịch cổ phiếu từ thiên tài Nicolas Darvas
Làm ăn, giao dịch hay bất cứ việc gì trong mọi hoạt động xã hội đều có những nguyên tắc. Cái quan trọng không phải là tìm ra nguyên tắc, điều quan trọng là tuân thủ theo nguyên tắc đó một cách kỹ luật và kết hợp với những phản ứng mau lẹ, cách giao dịch có độ kiên nhẫn nhất định. Bạn sẽ thành công
 
Dưới đây là 24 bài học giá trị trong giao dịch cổ phiếu từ thiên tài Nicolas Darvas
1. Không có cổ phiếu tốt hay xấu. Có chỉ là cổ phiếu tăng giá và cổ phiếu sụt giảm giá, và mức giá dựa trên luật cung và cầu của thị trường. 
2. “Bạn không bao giờ có lợi nhuận nếu không có người môi giới” là lời khuyên tồi sẽ dẫn đến việc mua bán quá mức và làm giảm lợi nhuận của cổ phiếu đang tăng giá. 
3. Tránh việc bán cổ phiếu đang tăng giá và giữ cổ phiếu đang giảm giá . 
4. Có một phong cách trên thị trường là theo sau cổ phiếu dẫn dắt. Bạn sẽ tìm thấy thành công bằng cách lựa chọn ngành hoạt động tích cực nhất và nhóm ngành công nghiệp mạnh nhất và mua cổ phiếu dẫn đầu. 
5. Sự kết hợp của giá cả và khối lượng tăng lên là chìa khóa để lựa chọn cổ phiếu. Tập trung thời gian của bạn trên các cổ phiếu dẫn dắt mới đang nổi lên với một chu kỳ thị trường mới. 
6. Dự đoán tăng trưởng hơn là bản thân sự tăng trưởng dẫn đến lợi nhuận lớn trong cổ phiếu tăng trưởng “Bạn có để tìm ra những gì đám đông muốn và đi cùng với nó. Bạn không thể chống lại đám đông”. 
7. Một trong những cách nhanh nhất để mất tiền trên thị trường là để lắng nghe người khác và tất cả cái gọi là ý kiến của các chuyên gia. Để thành công, bạn phải bỏ qua tất cả các ý kiến bên ngoài và các dự đoán. Thực hiện theo chiến lược của riêng bạn! 
8. Thiệt hại là học phí ở Phố Wall. Học hỏi từ các thiệt hại đó. 
9. Bạn có thể mong là mình sai trong một nửa các quyết định của mình. Mục tiêu của bạn là mất càng ít càng tốt khi bạn là “Tôi không có cái tôi trong thị trường chứng khoán. Nếu tôi phạm một sai lầm, tôi thừa nhận nó ngay lập tức và nhận ra nhanh chóng. Nếu bạn có thể chơi roulette với sự đảm bảo rằng bất cứ khi nào bạn đặt cược $ 100, bạn có thể nhận được với $ 98 , sẽ không gọi tỷ lệ cược là tốt?”. 
10. ầu hết những thất bại lớn của bạn sẽ đến từ ba điều: 
1) khi bạn từ bỏ các quy tắc của bạn, 
2) bạn trở nên quá tự tin, và
3) giao dịch trong tuyệt vọng khi không thành công.
11. Các nhà đầu cơ tìm kiếm những cơ hội tốt nhất. Để thực sự thành công, bạn phải chờ đợi đúng cơ hội khi nó thể hiện mình và điều này thường có nghĩa là không làm gì trong thời gian dài. 
12. Thị trường này hoạt động theo cách của nó do người tham gia hành xử theo cách mà họ làm. Không ai biết họ sẽ làm gì cho đến khi họ thực sự làm điều đó. 
13. Nhà đầu tư dài hạn là những con bạc thực sự trên thị trường do hy vọng đời đời của họ là giữ cổ phiếu thua lỗ và mong sẽ tăng giá trở lại. 
14. Rất khó khăn để có lợi nhuận ở phía bên Short Sell của thị trường so với bên đầu tư dài hạn. Cơ hội thành công tốt nhất cho bạn là đầu tư trong xu hướng tăng – Up trend hoặc thị trường giá lên Bull market. 
15. Hầu hết, không phải tất cả cổ phiếu, sẽ theo xu hướng chung của thị trường Để rèn luyện những cảm xúc của bạn, hãy viết ra những lý do làm cho mỗi lần giao dịch. Khi bạn bị mất tiền hãy viết lại những gì bạn nghĩ góp phần cho sự thua lỗ. Và sau đó nghiên cứu và thiết lập các quy tắc mới để tránh những sai lầm tương tự. 
16. Tập trung các kỹ năng giao dịch của bạn. Ở đỉnh cao của sự thành công của mình, Darvas nắm giữ chỉ 5 đến 8 cổ phiếu một lúc mà trái ngược với những ngày trước đó của ông khi ông quá tích cực mua bán và có đến 30 cổ phiếu trong danh mục của mình. 
17. Tránh đầu tư vào các cổ phiếu dẫn dắt trên đà giảm. Các mức kháng cự trên cao sẽ kiềm giữ khả năng của xu hướng tăng giá (Uptrend) bởi các nguồn cung từ những nhà đầu tư trước đó không cắt giảm thua lỗ của họ. Theo Darvas, lý do duy nhất cho một cổ phiếu được xem xét là nó đang tăng giá. Nếu điều đó không xảy ra, thi “không có lý do khác đáng xem xét.” 
18. Darvas sử dụng “lý thuyết hộp” của mình khi giao dịch: Ông mua khi xuất hiện một hộp mới đang hình thành cao hơn hộp cũ và bán khi xuất hiện xu thế phá vỡ bên dưới hộp hiện tại. 18. Đối với lần mua bán mới, Darvas sử dụng “mua thí điểm” mà về cơ bản là vị trí khởi đầu cho các cổ phiếu ông thích. Chỉ khi các cổ phiếu tiếp tục di chuyển lên giá cao hơn thì ông tăng vị thế mua của mình. Ông đã học được là không bao giờ mua thêm một cổ phiếu đang xuống giá (bắt dao rơi), đó không khác gì hành động tự sát. 
19. Ông nghĩ rằng nhiều nhà đầu tư không thành công đã sai lầm khi nhìn vào những cổ phiếu quen thuộc đã mang lại kết quả cho họ trong quá khứ thay vì tập trung vào các cổ phiếu tiếp theo với các yếu tố phù hợp với chu kỳ thị trường mới: “Tôi chỉ ở trong ngành công nghiệp non trẻ, thu nhập có thể tăng gấp đôi hoặc gấp ba. Các yếu tố lớn nhất ảnh hưởng đến giá cổ phiếu là sự thu hút của các khoản thu nhập trong tương lai. Những ước mơ của tương lai là những gì kích thích con người, điều này không thực tế”. 
20. Sự hoàn hảo không có vai trò quan trọng trong việc giúp cho kinh doanh chứng khoán thành công. Không ai có thể mua ở mức giá thấp nhất tuyệt đối và bán ở mức giá cao nhất. Không nên dành thời gian hay nỗ lực cho mục tiêu đó “Tôi không bao giờ mua một cổ phiếu thấp, bán cao trong cuộc sống của tôi. Tôi hài lòng khi đi cùng xu hướng thị trường”. 
21. Chỉ thực hiện giao dịch khi môi trường có lợi cho bạn. Chiến lược của Darvas giúp ông ra khỏi sự nghèo đói và thị trường giá xuống bởi vì ông sẽ không giao dịch cổ phiếu không phù hợp với yêu cầu của mình mà chỉ phù hợp ở thị trường giá lên đang phát triển. Tích cực gia tăng tỷ lệ. Darvas tin rằng nên tích cực tăng vị thế mua khi hệ thống của mình xuất hiện tín hiệu mua mạnh. Trong thực tế, đôi khi 50% vốn của ông đã được dành để mua chỉ một cổ phiếu. 
22. Trong khi phương pháp tiếp cận kinh doanh của ông là rất kỹ thuật, sau khi nghiên cứu những người chiến thắng của thị trường, ông hiểu sự liên quan của việc tìm kiếm cổ phiếu có nền tảng tài chính tốt. Cụ thể, Darvas nghĩ rằng thu nhập và dự đoán thu nhập tăng thêm của cổ phiếu trong tương lai là rất quan trọng. 
23. Hãy luôn là một kẻ học hỏi thị trường. Darvas đã học bằng cách đọc hơn 200 cuốn sách về các nhà đầu cơ và thị trường chứng khoán và dành nhiều giờ một ngày nghiên cứu thị trường chứng khoán. Trong thực tế, cuốn sách của Gerald Loeb & phương pháp tiếp cận từng là nguồn cảm hứng chính. 
24. Không ai có thể hoàn toàn làm chủ thị trường. Sau khi có hàng triệu đô la và những cuốn sách bán chạy nhất, Darvas vẫn học tập và tinh chỉnh hệ thống của mình cho đến khi ông qua đời.

28 điều nên học thuộc khi tham gia Trading

28 điều nên học thuộc khi tham gia Trading
1. Thông tin nào mọi người đều biết thì không có ý nghĩa nhiều lắm

2.  Do hầu hết mọi người xem thị trường chứng khoán là nơi có thể làm giàu nhanh chóng, đây là lý do khiến hầu hết mọi người đều thất bại

3. Khi tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn trên thị trường, giá trị của kinh nghiệm đó sẽ chuyển thành kiến thức và kiến thức đó sẽ giúp ta xác định được nên làm gì, không nên làm gì trên thị trường

4. Giao dịch ngắn hạn (giữ cổ phiếu từ 6 đến 18 tháng) thường mang lại lợi nhuận cao hơn so với giao dịch dài hạn bởi vì điều này đồng nghĩa với việc bạn phải mua đúng cổ phiếu tại đúng thời điểm. Cũng giống như dự đoán thời tiết thế nào vào ngày mai hoặc ngày kia sẽ dễ dàng hơn rất nhiều so với dự đoán thời tiết trong nhiều tháng tới.

5. Để có thể giao dịch ngắn hạn tốt, bạn phải hoàn toàn chuyên tâm vào công việc (đầu tư cổ phiếu).

6. Những nhà giao dịch giỏi nhất thường là những chuyên gia tâm lý, trong khi đó những người giao dịch tồi nhất thường là nhân viên kế toán.

7. Bạn có thể cho rằng mình nên mua cổ phiếu với tỷ lệ P/E thấp nhất định do công thức đã quá đánh giá quá thấp giá của cổ phiếu. Tuy nhiên thị trường không suy nghĩ và hành động theo cách thức như vậy. Bạn phải giao dịch phù hợp với những hành động diễn ra trên thị trường, chứ không đơn giản là cách bạn nghĩ thị trường sẽ giao dịch thế nào.

8. Cổ phiếu cũng trải qua những giai đoạn giống con người: giai đoạn phôi thai, phát triển, trưởng thành và suy thoái. Giai đoạn cổ phiếu phát triển là giai đoạn có thể kiếm lợi nhiều nhất.

9. Những người giao dịch thành công có nguyên tắc rút khỏi thị trường khi họ giao dịch không phù hợp với xu hướng thị trường thay vì cố gắng tiếp tục giao dịch trên thị trường khi nguy hiểm.

10. Giao dịch tập trung vào một số loại cổ phiếu nhất định, không tràn lan nhiều loại cổ phiếu khác nhau.

11. Các nhà giao dịch nên đặt mục tiêu cao cho mình- ví dụ cố gắng tăng gấp đôi vốn trong vòng từ 6 đến 18 tháng.

12. Tập trung nghiên cứu những lần giao dịch thất bại là một cách dẫn đến thành công.

13. Cần có bộ nguyên tắc rõ ràng về lý do mua cổ phiếu.

14. Khi có tín hiệu nên bán thì cần phải bán. Đừng nghĩ vì là nhà đầu tư dài hạn nên phải nắm giữ dài hạn.

15. Nên lo lắng khi giá cổ phiếu ở mức rất cao, khi hầu hết các nhà đầu tư đều quá lạc quan và khi mọi thứ trên thị trường có vẻ hoàn thiện.

16. Những cổ phiếu đang trầm lắng khi bắt đầu nhích dần giá và có những tín hiệu lạc quan về số lượng cổ phiếu giao dịch thường là những cổ phiếu cần được nghiên cứu thêm nhiều nữa.

17. 10% là mức thua lỗ lớn nhất cho phép.

18. Luôn tìm kiếm những cổ phiếu ăn khách hàng đầu và mua những cổ phiếu này.

19. Số lượng giao dịch giảm trong lúc giá tiếp tục tăng là dấu hiệu xấu.

20. Áp dụng chiến lược mua với số lượng ngày càng nhiều khi giá cổ phiếu tăng (giống Livermore).

21. Ba yếu tố xem xét xem một cổ phiếu có tốt không:
– Chất lượng – về cơ bản tốt, có khả năng thanh khoản và quản lý tốt
– Giá cả
– Xu hướng

22. Chọn công ty có hệ thống quản lý tốt và các giám đốc cấp cao có đóng góp nhiều vốn.

23. Sẽ có điểm giá của các cổ phiếu không biến động sau một thời gian dài tăng giá mạnh.

24. Các dấu hiệu chú ý bán:
– Khi dự đoán thị trường sẽ sụt giảm
– Khi công ty gặp một số trục trặc
– Khi có cơ hội mua cổ phiếu tốt hơn

25. Bán toàn bộ khoảng 10% cổ phiếu (các cổ phiếu yếu nhất) vào cuối năm, và dùng số tiền này đầu tư vào những cổ phiếu mạnh hơn.
26. Các lý do thua lỗ:
– Trả giá quá cao
– Không nhận thấy công ty đó hoạt động yếu kém qua bản tổng kết tài sản
– Giao dịch nhầm hướng do tính toán số lợi nhuận kiếm được không chính xác

27. Khi giá cổ phiếu tăng nhanh và có giá trị quá cao, là một tín hiệu để bán cổ phiếu.

28. Hiếm có cơ hội thành công khi thị trường sụt giá

(Nguồn: Lessons from the Greatest Stock Traders of All Time)

Nếu bạn không đủ giỏi, đừng dại đi ngược đám đông

Nếu bạn không đủ giỏi, đừng dại đi ngược đám đông

Nếu bạn không đủ giỏi, đừng dại đi ngược đám đông


Đối với những sự việc ta không hiểu, không chắc chắn, cách an toàn nhất đó là chạy theo đám đông. Bởi trong đa số trường hợp, số đông thường luôn đúng.

1-1440479072304-crop-1440479079329

Bạn sẽ làm gì khi một ngày đẹp trời, bỗng dưng các cửa hàng đồng loạt tung khuyến mãi? Hàng hóa đồng loạt giảm giá khiến bạn có cơ hội mua rẻ những mặt hàng mà trước đây chưa bao giờ bạn dám nghĩ tới.

Lúc này, bạn sẽ vội vàng xông vào mua hết những gì bạn thích, hay sẽ dừng lại để suy nghĩ thêm một chút: Tại sao giá lại giảm nhiều đến vậy? Liệu ngày mai sẽ lại tiếp tục có khuyến mãi?

Có lẽ, là nhà đầu tư ai cũng biết tới châm ngôn nổi tiếng nhất của wanrrent buffet:“Hãy sợ hãi khi người khác tham lam. Và hãy tham lam khi mọi người đang sợ hãi”. Hãy nhìn vào thị trường chứng khoán ở thời điểm hiện tại. Đang có quá nhiều dấu hiệu cho thấy nhà đầu tư đang sợ hãi, và mọi người đều cố rút lui khỏi thị trường.
Chứng khoán Việt Nam vẫn đang rơi, và chưa thấy điểm dừng lại

Chứng khoán Việt Nam vẫn đang rơi, và chưa thấy điểm dừng lại

Câu hỏi được đặt ra trong lúc này: Chúng ta có nên làm theo câu châm ngôn của Warren Buffett?

Ngoài triết lý “đám đông”, nhà đầu tư dường như đã quên mất hai nguyên tắc đầu tư kinh điển khác của Warren Buffett. Ông thường dặn dò các nhà đầu tư của mình phải thuộc lòng 2 nguyên tắc sau:

Nguyên tắc số 1 – “Không được thua lỗ”.
Nguyên tắc số 2 – “Không được quên nguyên tắc số một”.

Trong những giai đoạn nhạy cảm của thị trường, là một nhà đầu tư chúng ta cần một cái đầu tỉnh táo để đánh giá. Benjamin Graham, vị thầy giáo thông thái của Warren Buffett, đã ví đám đông là Mr Market – “Ông thị trường”. Ông thị trường thường mua vào khi vui và sẵn sàng trả giá gấp đôi để mua được cổ phiếu yêu thích của mình. Nhưng khi buồn, ông ta sẵn sàng bán lại nó với giá còn một nửa.

Tuy nhiên, Benjamin cho rằng một nhà đầu tư khôn ngoan cần phải hiểu rõ tâm tính của “Ông thị trường” và lợi dụng đặc điểm này. Người thắng cuộc trên thị trường chứng khoán là người biết sử dụng lý trí của mình, và không để cảm xúc chế ngự.

Điều quan trọng nhất là phải luôn xem chừng “Ông thị trường”, xem ông ta hành động thế nào. Khi ông ta vui vẻ nhất là lúc ta nên bán ra. Khi ông ta buồn chán nhất, chính là lúc ta nên mua vào.

Do đó, câu châm ngôn của Warren Buffett cần được viết lại một cách rõ ràng hơn, theo đúng tinh thần của Buffett và người thầy của ông:
“Hãy sợ hãi khi người khác Tham Lam Nhất. Và hãy tham lam khi mọi người đang Sợ Hãi Nhất”.
Cũng vì không hiểu hết câu nói của Buffett, nhiều nhà đầu tư đã phải hứng chịu những khoản thua lỗ lớn.

Họ vội vàng bán ra khi đám đông mới chỉ bắt đầu “tham lam”, thị trường tiếp tục đi lên và họ dằn vặt bản thân vì đã bán rẻ cổ phiếu. Sai lầm hơn, có những người vội vàng mua vào khi đám đông mới chỉ bắt đầu “sợ hãi”. Thị trường cứ đi xuống, tài khoản cứ thế vơi dần đi theo từng ngày…
Có một câu chuyện vui như thế này: Có một ông trùm dầu mỏ lên thiên đường tham gia một hội nghị. Khi bước vào phòng họp, phát hiện ra không còn chỗ trống nào nữa, ông liền nảy ra một kế, ông liền hét lớn: “Địa ngục vừa phát hiện ra mỏ dầu lớn chưa từng có!”.

Và thế là tất cả các ông trùm dầu mỏ trên thiên đường bèn thi nhau chạy xuống địa ngục, chẳng mấy chốc trên thiên đường chỉ còn lại ông trùm nọ. Lúc này ông ta liền nghĩ, mọi người đã chạy đi hết rồi, có khi địa ngục phát hiện ra dầu mỏ thật chăng? Và thế là ông ta cũng vội vàng chạy về phía địa ngục.

Câu chuyện trên là ví dụ điển hình của “hiệu ứng bầy đàn” hay “tâm lý đám đông “. Giống như ông trùm nọ, cho dù có thông minh đến mấy, nhưng nhiều lúc chúng ta buộc phải từ bỏ quan điểm của mình để chạy theo phong trào.
Khi đám đông tham lam, ta không thể ngồi yên một chỗ. Ngược lại, khi đám đông sợ hãi không lý do, ta cũng nên sợ hãi theo. Đối với những sự việc ta không hiểu, không chắc chắn, cách an toàn nhất đó là chạy theo đám đông.

Cách tìm đáy cổ phiếu ( sưu tầm )

Cách tìm đáy cổ phiếu ( sưu tầm )
Diễn biến quá khứ:

Trong những giai đoạn thị trường thị trường giảm không phanh (hay còn gọi là tuyết rơi) không có mã nào là ngoại lệ tất cả đều nhìn thấy màu xanh lơ. Hết phiên này sang phiên khác.
Vậy kinh nghiệm mò đáy ở đây là gì: bạn mò đáy vào thời điểm nào và mò được đúng đáy vào thời điểm nào, khi tâm lý TT đang thực sự hoảng sợ.

Một vài kinh nghiệm xin chia sẽ cùng các bạn:

Dấu hiệu để bắt đầu nghĩ tới việc mò đáy:

1. Đầu tiên sẽ xuất hiện những phiêm giảm giá mạnh nhưng nhưng vẫn có một nhóm mã (2-3 mã BCs) sẽ giử giá.

2. Tiếp theo sẽ xuất hiện những phiên phục hồi ảo (là những phiên giảm sâu trong giờ và cuối phiên giảm nhẹ) tạo cảm giảm an tâm cho nhà đầu tư về khả năng phục hồi của thị trường và các ngưỡng hổ trợ bắt đầu được các chuyên gia phân tích và đánh giá mặt bằng giá đã thực sự hấp dẫn. Tin tốt về nhóm mã giữ giá thường sẽ được tung ra vào thời điểm này.

3. Để rồi khi những phiên WO xẩy ra thì lúc đó ta sẽ thấy nhiều chuyên gia và nhà đầu tư hô hào bắt đáy. Nhóm cổ phiếu giử giá trong thời gian này tiếp tục có xu hướng tăng nhẹ và kích thích nhà đầu tư về việc bắt đáy thành công. 

4. Tuy nhiên điểm hoảng loạn chính thức của thị trường đó là khi các điểm bắt đáy đều không thành công và tiếp tục giảm sâu, Nhóm cổ phiếu giử giá tốt trong giai đoạn vừa qua bắt đầu giảm sàn với khối lượng lớn. Và chính nhóm này mới thực sự gây ra tâm lý hoảng loạn cho nhà đầu tư. Và đây là thời điểm sự khốc liệt bắt mang tên kỷ lục xuất hiện. Đây là dấu hiệu call margin và bán ko căn ke giá trị doanh nghiệp, ko căn ke giá bán, bán như ngày mai người yêu ko quay về nữa.

image.jpg

Khi có dấu hiệu thứ 4 xuất hiện hảy bình tĩnh bắt đầu mò đáy, Thực hiện mua dần và quan sát và xuất hiện một số điểm đáng lưu ý về TT đã chạm đáy như sau:

1. Sau khi mua vào phiên hoảng loạn của thị trường chú ý quan sát TT sẽ xuất hiện điểm số giảm kỷ lục của phiên đó và các phiên tiếp theo chỉ số vẫn tiếp tục duy trì ở vùng này.

2. Sẽ có các phiên giảm sâu xuất hiện nhưng vol sẽ rất thấp (nếu thấp đột biến thì càng tốt) và sẽ hồi nhẹ vào cuối phiên.

3. Trong giai đoạn này nhóm cổ phiếu đầu cơ vẫn tiếp tục giảm sâu tạo cảm giác sợ hãi cho nhà đầu tư. (vì vậy hạn chế bắt đáy đối với nhóm cổ phiếu đầu cơ)

4. Xuất hiện các điểm mua bắt đầu có lãi, lúc này có thể tăng size.

5. Tiếp theo đó thị trường giao dịch với thanh khoản thấp nhưng về chỉ số thì tăng nhẹ dần.


chú ý: nếu mò đáy mà điểm mua về vẫn lỗ thì dừng hoạt động mò) và chờ các tín hiệu tại tại điểm 2-5 xuất hiện thì tiếp tục đầu tư.

khi mò đay có thể phải xác định mò sai, giữ lâu kiểu gì cũng lãi vì tại điem mò giá nhiều cổ phiếu đã rẻ, và đax mò đay thi ko tham, chỉ max giải ngân tầm 50-70% tài sản ko margin.

Tiết kiệm hay đầu tư

Tiết kiệm hay đầu tư
Dù thị trường luôn có sẵn các kênh tiết kiệm, không thiếu những lựa chọn đầu tư, nhưng câu hỏi “Tiết kiệm hay đầu tư?” vẫn luôn là nỗi băn khoăn của nhiều người với mong muốn tìm được cách sinh lời hiệu quả nhất.

Sự khác nhau giữa tiết kiệm và đầu tư là gì?

Tiết kiệm là để dành tiền từng khoản nhỏ dần dần để có được một khoản lớn trong ngắn hạn hoặc dài hạn. Thường người ta hay tiết kiệm bằng cách giữ tiền mặt hoặc gửi tiền ngân hàng, do khả năng gặp rủi ro thấp. Tuy nhiên nếu lạm phát tăng cao, thì tiền tiết kiệm sẽ có thể mất giá nếu lãi suất ngân hàng không bù được lạm phát.
Trong khi đó, đầu tư là mua một loại tài sản bất kỳ với mục đích tài sản đó sẽ tạo ra lợi nhuận và tăng giá trị nhiều trong tương lai. Thường người ta hay đầu tư bằng cách mua vàng, bất động sản, chứng khoán, chứng chỉ quỹ mở hoặc mở cửa hàng, mở công ty. Đầu tư thường cần dài hạn và có phần rủi ro hơn tiết kiệm.

Nên tiết kiệm hay đầu tư?

Nguyên tắc cơ bản trong tài chính cá nhân là ngoài khoản tiền mặt nhất định dùng cho chi tiêu hàng ngày và tiền dự phòng khẩn cấp (thường bằng khoảng từ 02 đến 03 tháng lương) thì các khoản khác ngoài khoản này đều có thể dùng để tiết kiệm và đầu tư. Nếu bạn không chắc chắn nên tiết kiệm hoặc đầu tư thì câu trả lời là cả hai, tiết kiệm một phần và đầu tư một phần.
Nhưng đầu tư bao nhiêu là hợp lý còn phụ thuộc vào mục tiêu và tình hình tài chính trong từng giai đoạn của cuộc đời mỗi người. Bạn có thể có các mục tiêu ngắn hạn như mua xe máy, mua xe ô – tô, đi du lịch, v..v. Hoặc các mục tiêu trung hạn bao gồm mua nhà, chi phí học hành của con cái, v..v. Đặc biệt khi bạn trên 30 tuổi, nguồn tiền dành cho tiêu dùng khi về hưu sẽ là một mục tiêu dài hạn quan trọng.
Nếu tiết kiệm là “kênh trú ẩn” an toàn theo kiểu “ăn chắc mặc bền” thì đầu tư được xem là “kênh làm giàu” giúp tăng trưởng tài sản theo thời gian. Nói như T.Harv Eker, tác giả của quyển sách nổi tiếng “Bí quyết Tư Duy Triệu Phú”, thì “người giàu bắt đồng tiền làm việc cho họ”, và đầu tư chính là cách để biến mỗi đồng tiền được ví như một hạt giống, dần phát triển thành một cây to, tức một khối tiền lớn.

Làm sao để tiết kiệm và đầu tư hiệu quả?

Dù là mục tiêu ngắn hạn hay dài hạn, tiết kiệm và đầu tư là điều cần thiết để đạt được những mục tiêu tài chính vạch ra. Vì thế, việc chọn được một công cụ đầu tư hiệu quả là rất quan trọng để có thể an tâm về khoản tiền bỏ ra.
Đầu tư cũng giống như trồng hoa, trải qua thời gian vun trồng mới có được bông hoa đẹp. Thế nên chọn cách thức sinh lãi nào mà bạn không tốn quá nhiều công sức là giải pháp khá vẹn toàn.

Kiểm soát cảm xúc trong giao dịch chứng khoán

Kiểm soát cảm xúc trong giao dịch chứng khoán

Kiểm soát cảm xúc trong giao dịch chứng khoán….

bil1

biến động giá chứng khoán luôn khiến huyết áp của nhà đầu tư thay đổi đáng kể ……….

Trong khi có rất nhiều sách, bài viết nói về cách giao dịch, phương pháp giao dịch thì có rất ít các bài viết nói về tâm lý giao dịch. Điều này có thể là do hầu hết các nhà đầu tư áp dụng các phương pháp phân tích cơ bản hoặc phân tích kỹ thuật có xu hướng dùng các công thức và mô hình toán học nhiều hơn nên xem nhẹ yếu tố tâm lý trong đầu tư. Tuy nhiên thực tế, yếu tố tâm lý tác động rất lớn đến kết quả đầu tư của bạn, vì thế nếu bạn muốn thành công trên chứng khoán xin đừng bỏ qua các bài học về yếu tố này.

Trong bài viết bốn cảm xúc nguy hiểm khi đầu tư chứng khoán , tôi sẽ giúp các bạn cải thiện khả năng đầu tư của bạn bằng cách cải giúp bạn nhận ra các yếu tố tâm lý cơ bản của nhà đầu tư và cách tránh những cảm bẫy tâm lý cơ bản nhất.

Nhiều người khuyên các nhà đầu tư mới là nên giao dịch chứng khoán ảo để rút kinh nghiệm. Tuy việc này chỉ giúp bạn học được những mô hình kỹ thuật và các điểm nóng nhưng nó không thể giúp bạn có được những bài học về tâm lý đầu tư – điểm tác động lớn nhất đến kết quả đầu tư thực tế của bạn – vì khi bạn đầu tư ảo, tiền đó không phải là của bạn, và những yếu tố tâm lý chưa tác động đến bạn.

Là một nhà đầu tư cá nhân thì bạn đang ở trong một cuộc chiến – cuộc chiến giữa bạn với chính tâm lý của bạn – bạn phải suy nghĩ tách biệt khỏi số đông và những yếu tố tâm lý cơ bản nhất của chính mình.

Cho dù bạn đầu tư ở bất cứ thị trường nào, xu hướng kỹ thuật luôn là người bạn đồng hành với bạn. Chống lại xu hướng luôn làm bạn phải thua lỗ trong dài hạn.

BỐN CẢM XÚC NGUY HIỂM KHI ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN:
THAM LAM, SỢ HÃI, HY VỌNG VÀ HỐI TIẾC

Bốn trạng thái này ảnh hưởng tới quyết định của các nhà đầu tư ở bất kỳ thị trường nào. Thị trường chứng khoán được tạo nên từ những con người cá nhân nhưng có xu hướng hành động theo đám đông.

Nếu nhà đầu tư nhận thực và có sự hiểu biết sâu sắc về bốn trạng thái tâm lý này thì sẽ nhận diện được điểm yếu của mình và khắc phục . Bây giờ chúng ta sẽ cùng xem xét từng yếu tố tâm lý riêng biệt.

THAM LAM LÀ GÌ ?

Tham lam được định nghĩa là sự ham muốn có nhiều tiền và sự giàu có.

Trong thuật ngữ giao dịch, tham lam được định nghĩa là sự ham muốn giao dịch để có được một mức lợi nhuận không tưởng ngay lập tức. Khi bị lòng tham lấn áp, tất cả những điều mà nhà đầu tư nghĩ sẽ là họ đã kiếm được bao nhiêu tiền và họ sẽ kiếm thêm được bao nhiêu tiên nữa bằng việc tiếp tục đầu tư. Đây là một lối suy nghĩ sai lầm. Lợi nhuận thực tế sẽ chưa có được nếu như bạn vẫn còn đang đầu tư. Cho đến lúc này, các nhà đầu tư chỉ có cái gọi là lợi nhuận tiềm năng ( lợi nhuận trên giấy tờ ). Tham lam thường làm bạn bỏ qua các dấu hiệu của rủi ro.

SỢ HÃI LÀ GÌ ?

“Sợ hãi” là cảm xúc mà nhà đầu tư nếm trải nhiều nhất và ảnh hưởng nhiều nhất trong bốn trạng thái tâm lý cơ bản.

Sợ hãi được định nghĩa là một cảm xúc đau buồn được gây ra bởi một cảm giác nguy hiểm sắp xảy ra – là kết quả của phản ứng sinh tồn. Điều này đúng với bất kỳ mối đe doạ nào – dù là có thật hay tưởng tượng.

Sợ hãi ảnh hưởng mạnh nhất trong bốn cảm xúc nguy hiểm khi đầu tư chứng khoán. Khi nhà đầu tư trở nên sợ hãi, họ sẽ bán cổ phiếu với bất cứ giá nào. Sợ hãi dẫn đến hoảng sợ, hoảng loạn và dẫn đến việc ra quyết định kém. Người ta có thể nhảy ra khỏi toà nhà khi thị trường sợ hãi nhưng không ai có thể nhảy ra khỏi toà nhà khi thị trường tham lam. DJ đã mất 24 năm ( 1983-2007 ) để tăng từ 1000 lên 14.200 nhưng chỉ cần mất 2 năm ( 2007-2009 ) để mất đi phân nữa điểm số. Đây là một ví dụ ấn tượng về sức ảnh hưởng của sự sợ hãi.

Sợ hãi là một cảm xúc tốt nếu nó giúp bạn thoát khỏi những giao dịch xấu. Ngược lại, nó sẽ là xấu nếu bạn ứng xử không hợp lí trong các trường hợp nhất định, ví dụ như bạn thua lỗ lần đầu từ này và lần sau bạn vẫn duy trì sự sợ hãi đó. Điều này rất có hại cho nên người ta thường đưa ra những phương pháp giao dịch giúp các nhà đầu tư loại bỏ các cảm xúc ra khỏi quyết định đầu tư.

Khi thị trường đang sợ hãi và hoảng loạn, nhà đầu tư không nên hợp lí hoá hay đưa ra lí do để mình không thoát khỏi thị trường. Trong thời gian hoảng loạn, tốt nhất là đưa trạng thái về tiền mặt. Việc lắng nghe tin tức, chính phủ, tin đồn là một việc làm phí thời gian. Nếu thị trường trong trạng thái hoảng loạn thì việc tốt nhất là không nên chống lại xu hướng này. Việc hiểu biết về sự sợ hãi là một trong những vấn đề nhà đầu tư cần nắm vững nhất để cải thiện khả năng giao dịch của mình.

HY VỌNG LÀ GÌ ?

Hy vọng là cảm giác kỳ vọng và mong muốn một điều gì đó sẽ xảy ra.

Hy vọng có thể được xem là cảm xúc nguy hiểm nhất trong bốn cảm xúc nguy hiểm khi đầu tư chứng khoán. Cảm xúc hy vọng làm cho nhà đầu tư tiếp tục thua lỗ hay vì cắt lỗ. Tham lam và hy vọng sẽ ngăn cảng nhà đầu tư chốt lời. Khi một cổ phiếu tăng giá, nhà đầu tư hy vọng nó tiếp tục tăng để có thể bù lỗ những kết quả giao dịch trong quá khứ. Dạng nguy hiểm nhất là khi cổ phiếu mất giá các nhà đầu tư tiếp tục hy vọng nó sẽ tăng giá trở lại, nhưng thị trường chứng khoán không phải là một tổ chức từ thiện. Hãy yên tâm, khi cảm xúc của bạn nằm ở ngưỡng hy vọng, thị trường chứng khoán sẽ cho bạn một bài học thích đáng.

HỐI TIẾC LÀ GÌ ?

Hối tiếc là một cảm giác buồn bã, hối hận sau khi một vụ việc gì đó xảy ra, đặc biệt khi nó liên quan đến một sự mất mát hay một cơ hội bị bỏ qua.

Những tác động tiêu cực của cảm xúc này là hiển nhiên. Đương nhiên một nhà đầu tư sẽ cảm thấy hội tiếc khi đầu tư thua lỗ hay bỏ lỡ một cơ hội tốt. Nhưng việc quan trọng của một nhà đầu tư không phải là tập trung vào những gì đã mất hay những cơ hội đã bỏ lỡ, việc quan trọng là bạn phải rút ra được kinh nghiệm từ những sai lầm này và tiếp tục tiến lên phía trước.

Khi các nhà đầu tư bỏ lỡ một cơ hội, họ thường sẽ mua đuổi với mức giá cao hơn và độ rủi ro cao hơn. Việc này cũng khá là nguy hiểm nếu bạn không xem xét kỹ tình hình.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ CẢI THIỆN CẢM XÚC ĐẦU TƯ CỦA BẠN

Là con người, bốn cảm xúc trên xảy ra khi bạn đầu tư chứng khoán là chuyện hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, nhận thức được bốn cảm xúc trên là rất quan trọng để giúp bạn có thể loại bỏ cảm xúc ra khỏi quyết định đầu tư của mình. Khi bạn làm được điều này bạn sẽ thấy kết quả đầu tư của bạn được cải thiện đáng kể.

Trong chứng khoán không có sai hoặc đúng . ….. còn tiếp @@

CUỘC KHỦNG HOẢNG NĂM 2008 DƯỚI CON MẮT CỦA NHÀ PHÂN TÍCH LIÊN THỊ TRƯỜNG.

CUỘC KHỦNG HOẢNG NĂM 2008 DƯỚI CON MẮT CỦA NHÀ PHÂN TÍCH LIÊN THỊ TRƯỜNG.

Mở đầu chương này tôi sẽ cùng các bạn nhìn lại nguyên nhân cùng với diễn biến căn bản của cuộc khủng hoảng. Trong phần kế tiếp tôi sẽ đem các nguyên nhân, diễn biến đó đặt lên biểu đồ dưới góc nhìn liên thị trường. Mục đích của chương này là cho người đọc thấy được các mối tương quan liên thị trường hiện hữu trong financial market. Qua đó thấy được vai trò chỉ báo sớm của phân tích liên thị trường trước mỗi vận động lớn tiềm tàng có thể có trong đầu cơ giao dịch cũng như trong đầu tư.

NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG
Trong lịch sử điều hành chính sách tài chính, tiền tệ của Cục dự trữ liên bang Mỹ có một nhân vật đã trở thành tượng đài cho đến tận ngày nay. Đó là Alan Greenspan- người được biết đến như là một học giả của các các thuyết đại khủng hoảng. Theo lẽ thông thường, FED chairman có nhiệm kỳ chỉ kéo dài 4 năm nhưng lão ma đầu này có tới 20 năm trên cương vị là người điều hành the FED, kéo dài từ 1987 đến tận 2006. Được ca ngợi là người hùng trong các cuộc khủng hoảng 1987 và bong bóng dot com của năm 2000. Nhưng cũng chính vì chính sách giải cứu kinh tế sau khủng hoảng công nghệ năm 2000 này mà ông này bị nhiều nhà kinh tế gia khác gọi là tội đồ gây ra cuộc khủng hoảng tài chính chính, bất động sản năm 2008. Lý do là sau khủng hoảng năm 2000 nổ ra, Alan Greenspan đã thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức (flood the cheap $ on the street) để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng, cứu nền kinh tế Mỹ khỏi suy thoái. Chỉ từ tháng 5/2001 đến tháng 12/2002, FED đã 11 lần cắt giảm lãi suất cho vay từ 6,5% xuống còn 1,75%/năm.01 FED fund rate
Chính sách lãi suất siêu thấp này đã thúc đẩy một số lượng lớn người dân đổ xô vào các ngân hàng thương mại (NHTM) vay tiền (trả lãi và vốn trong một thời gian dài) đem đi mua nhà. Về phía các NHTM sau khi cho người dân vay tiền, họ lại được tái được cấp vốn bởi hai công ty tài chính lớn nhất có sự bảo trợ của chính phủ Mỹ là Fanie Mae và Frieddie Mac(*) thông qua hình thức hai công ty này tiến hành mua lại các khoản cho vay của NHTM. Việc được tái cấp vốn này vô tình trở thành động lực làm cho các NHTM tiến hành cho vay một cách dễ dãi, không kiểm soát, dẫn đến kết quả nhiều khoản cho vay là dưới chuẩn, tình trạng đầu cơ, giá nhà bùng nổ…
Từ các khoản mua lại này, Fanie Mae và Frieddie Mac lại biến chúng thành các chứng từ được đảm bảo bằng các khoản vay thế chấp để bán lại cho các đại công ty tài chính và ngân hàng đầu tư như Bear Stearms, Lehman Brother, Merrill Lynch…
Các đại công ty tài chính, ngân hàng đầu tư này từ đó sẽ phát hành trái phiếu trên cơ sở các chứng từ cho vay thế chấp đó để bán cho các ngân hàng Mỹ khác và ngân hàng nhiều nước trên thế giới làm tài sản tích trữ do uy tín của các ngân hàng phát hành.
Việc “chứng khoán hoá” các khoản vay thế chấp đã vượt khỏi sự kiểm soát của chính phủ. Vòng luẩn quẩn của việc cho vay, tái cấp vốn và phát hành trái phiếu này cứ lập đi lập lại mà thật chất chỉ là đầu cơ đã làm thị trường nhà đất nóng lên, giá nhà đất bị đẩy lên cao cho đến khi người ta chợt nhận ra rằng nhu cầu nhà ở không có thật cao như vậy thì bong bóng nhà bắt đầu …. nổ.02 chu trinh chung khoan hoa cac khoan vay duoi chuan
(*)Ghi chú: Federal National Mortgage Association (Quỹ Thế chấp Nhà ở Quốc gia Liên bang), viết tắt là FNMA, còn được gọi là Fannie Mae, là một công ty đại chúng và là một tổ chức tài chính của Hoa Kỳ chuyên mua và chứng khoán hóa các khoản thế chấp nhằm đảm bảo về tài chính cho tổ chức tài chính cho người dân vay tiền để mua nhà ở.
Không giống như ở Việt Nam, khi đi mua nhà hầu hết bà con thanh toán bằng tiền mặt. Ở Mỹ thì không giống vậy. Nghĩa là khi đi mua nhà, hầu hết người dân Mỹ không có đủ tiền để trả ngay một cục. Thí dụ trị giá căn nhà họ mua là 100k$ thì họ chỉ cần có 20k$ trong túi thôi, 80k$ còn lại họ sẽ đến các ngân hàng or tổ chức tín dụng để vay. Vật thế chấp chính là căn nhà dự định sẽ mua đó. Fannie Mae sẽ mua khoản thế chấp đó từ tổ chức tài chính đã cho người dân vay tiền đó, chuyển khoản thế chấp này thành phiếu nợ đảm bảo bằng tài sản(chứng từ), rồi đem bán cho các nhà đầu tư chứng khoán với cam kết rằng sẽ trả gốc và lãi đúng hạn cho họ. Phần chênh lệch giữa tiền thu được từ bán chứng khoán và số tiền bỏ ra mua khoản thế chấp là nguồn thu của Fannie Mae. Cơ chế này tạo ra một sự đảm bảo cả cho người đi mua nhà lẫn tổ chức tín dụng. Nếu không có, tổ chức tín dụng có thể ngần ngại cho người mua nhà vay tiền vì sợ rủi ro rằng người đi vay không trả được nợ. Ngoài ra Fannie Mae còn đi vay trên thị trường nợ, thường là với lãi suất thấp hơn lãi suất của ngân hàng, rồi đi mua lại các khoản cầm cố của các tổ chức tín dụng.
Fannie Mae được thành lập vào năm 1938 để ổn định hóa nguồn cung nhà ở cho Hoa Kỳ sau Đại Khủng hoảng 1929- 1933. Ban đầu, nó là một công ty do chính phủ tài trợ. Sau đó vào năm 1968, chính phủ Hoa Kỳ quyết định chuyển đổi sở hữu của công ty này, thành một công ty cổ phần. Công ty niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán New York với mã là FNMA.
Fannie Mae và Freddie Mac đã cùng nhau kiểm soát gần như toàn bộ thị trường nhà ở của Hoa Kỳ. Cho nên khi cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra cuối năm 2007, cả hai cùng bị tổn thất tài chính nặng nề vì họ sở hữu hoặc bảo lãnh cho một nửa tổng số nợ thế chấp mua nhà của cả nước. Giá cổ phiếu của Fannie Mae sụt nghiêm trọng. Chính phủ và Quốc hội Hoa Kỳ đang xem xét kế hoạch quốc hữu hóa Fannie Mae và Freddie Mac.03 co phien fannie mae sup do tu nam 2008 den gio van khong phuc hoi lai
DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG
Vào đầu năm 2006, thị trường nhà đất bắt đầu có dấu hiệu suy giảm. Những ngôi nhà mới xây đã không bán được và hậu quả là sự tăng giá bắt đầu giảm mạnh. Nguyên nhân của tình trạng này là sự đảo ngược chính sách tiền tệ của FED. Nền kinh tế Mỹ đã bước vào năm thứ 4 tăng trưởng liên tục và những dấu hiệu lạm phát gia tăng mạnh đã xuất hiện. Một loạt các chỉ số giá khác cũng gia tăng. FED đã phản ứng lại bằng cách liên tục tăng lãi suất.
Chính sách tiền tệ thắt chặt của FED đã làm cho lãi suất ARM* tăng cao. Lãi suất tăng gây bất ngờ đối với những người vay nợ dưới chuẩn. Do tình trạng tài chính eo hẹp, nhiều người đã không đủ khả năng thanh toán. Tỷ lệ nợ quá hạn và vỡ nợ bắt đầu tăng mạnh. Điều này đối ngược với việc các nền tảng cơ bản của nền kinh tế vẫn tốt bởi lãi suất mặc dù có khuynh hướng tăng nhưng nó vẫn ở mức thấp trong lịch sử.
*ARM: Adjustable- rate mortgage (Cầm cố lãi suất có điều chỉnh). Khi vay mua nhà tại các NHTM vào thời kỳ những năm 2002- 2005, người dân Mỹ có hai lựa chọn chi trả lãi vay. Hình thức thứ nhất là trả theo lãi suất cố định, hình thức thứ nhì là trả theo lãi suất thả nổi (có điều chỉnh). Điểm đặc biệt ở đây là loại lãi suất cố định thường cao hơn một chút so với lãi suất cầm cố có điều chỉnh tùy theo điều kiện của lãi suất cơ bản (Fed Fund rate) khi ấy. Lãi suất ARM tuy có thấp hơn lãi suất cố định nhưng người đi vay lại phải đối mặt với rủi ro tăng lãi suất trong tương lai. Nhưng tại thời điểm đó, phần lớn người dân không nhận thức được rủi ro tăng lãi suất sau này khi nền kinh tế phát triển và lạm phát tăng cao. Chính vì lẽ đó, hầu hết người dân vay tiền khi đó lựa chọn hình thức trả lãi theo ARM. Hậu quả là sau bốn năm lới lỏng tiền tệ để thúc đẩy kinh tế, đến đầu năm 2006, áp lực lạm phát gia tăng khiến FED bắt đầu chu kỳ thắt chặt (tăng rate) thì phần đa những người đi vay tiền trước đó phải chịu đựng một mức lãi suất cao hơn. Nhà xây mới không bán được khiến cho giá nhà bị giảm càng làm trầm trọng thêm vấn đề và hậu quả tất yếu là những người vay tiền mua nhà trước đó vỡ nợ, đặc biệt là những khoản nợ dưới chuẩn.
Khi phần đa những người dân đã vay tiền mua nhà trước đó không thể trả nổi các khoản nợ gốc cũng như lãi vay thì dẫn đến một tình trạng tất yếu là các NHTM tiến hành tịch thâu căn nhà mà họ mang ra thế chấp khi vay tiền đó (danh từ nhà nghề gọi đây là giải chấp). Nhưng khốn một nỗi là giá nhà bây giờ đâu còn là giá nhà lúc trước. Nhà xây mới không bán được, hầu ai ai cũng nhận ra quá trình tăng giá lúc trước chỉ là do tình trạng đầu cơ gây nên đã đẩy toàn bộ thị trường nhà đất sụp đổ. Thị trường nhà sụp đổ thì các khoản cho vay tại NHTM, tổ chức tín dụng được hai công ty tài chính Fanei Mae và Frieddie Mac mua lại trước đó để phát hành chứng từ đảm bảo bị mất giá. Khi những chứng từ này mất giá trị thì những trái phiếu do các Ngân hàng đầu tư và công ty tài chính khác đã phát hành ra thị trường có nguy cơ vỡ nợ hay đúng hơn là những trái phiếu này mất khả năng thanh toán.
Từ thị trường nhà đất, khủng hoảng lan sang thị trường tín dụng- nơi huyết mạch của nền kinh tế. Khi một loạt các tổ chức tài chính- tín dụng, ngân hàng đầu tư lớn như Bear Stearms, Lehman Brother đệ đơn phá sản đã châm ngòi cho khủng hoảng niềm tin xảy ra trong dân chúng. Những người có tiền gởi tại bank trước đó, đồng loạt kéo nhau đến rút tiền càng làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn.
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008 DƯỚI GÓC NHÌN LIÊN THỊ TRƯỜNG
Nếu là một trader or investor sử dụng liên thị trường trong các quyết định giao dịch thì hẳn có lẽ khi U.S Stock crash bắt đầu vào tháng 10/2007 thì bạn đã nguyên con ngồi ngoài trước đó từ 3- 6 tháng rồi.
Khởi đầu đi là chênh lệch lợi tức trái phiếu chính phủ Mỹ (bond spread(*) ) thu hẹp đến mức đường cong lợi tức (Treasury yield curve) bị đảo ngược kéo dài suốt từ tháng 11/2006 cho đến tháng 9/2007 chính là một trong những tín hiệu cảnh báo sớm nhất cho sự kiện stock market sẽ crash vào tháng 10 tới.04 bond spread thu hep truoc khung hoang
(*)Ghi chú: Bond spread: bond= trái phiếu; spread= kéo dãn. Thuật ngữ bond spread được xài để nói đến sự chênh lệch lợi tức (yield) giữa hai loại trái phiếu với nhau. Hai loại trái phiếu này có thể là của cùng một quốc gia nhưng khác nhau ở kỳ hạn or là hai loại trái phiếu của hai quốc gia khác nhau nhưng có cùng kỳ hạn với nhau(exp: Sự chênh lệch lợi tức giữa trái phiếu 10 năm của Đức – Germany 10 year bond yield (German bund) và của Mỹ được gọi là một bond spread. Trader thường coi chỉ báo này để tiên đoán hướng đi của cặp tiền EURUSD. Trong minh họa trên, hình ảnh của bond spread được tính bằng cách lấy lợi tức của trái phiếu kỳ hạn 10 năm cuả Mỹ trừ đi lợi tức trái phiếu kỳ hạn 2 năm.
Kết quả của sự thu hẹp trong bond spread là một đường cong lợi tức dần phẳng hơn (or cường độ cao hơn là đảo ngược). Đường cong lợi tức hay còn gọi là yield curve là một trong những công cụ dự báo kinh tế hiệu quả. Phần chi tiết về yield curve sẽ được trình bày trong chương tiếp trong nội dung bàn về mối quan hệ giữa thị trường trái phiếu và thị trường hàng hóa. Trong khuân khổ của chương này chỉ sẽ dừng lại ở mức vẽ lại bức tranh khủng hoảng 2008 dưới góc nhìn liên thị trường, nên các khái niệm sâu hơn sẽ không được chú thích tại đây.
GÓC NHÌN LIÊN THỊ TRƯỜNG CHO CURRENCY TRADER NĂM KHỦNG HOẢNG 2008
Đường cong lợi tức bằng phẳng xuất hiện bắt đầu từ cuối năm 2005, và chuyển sang đảo ngược vào năm 2006-2007 khi các nhà giao dịch trái phiếu đã giảm lượng đầu tư vào trái phiếu kì hạn dài do lo ngại tỷ lệ tăng trưởng kinh tế sẽ giảm sút. Trong suốt năm 2006 và nửa đầu năm 2007, Chủ tịch Fed Ben Bernanke đã chuyển sự tập trung từ lý thuyết dư thừa tiết kiệm trên toàn cầu sang nhấn mạnh rủi ro tăng lạm phát, tuy nhiên, lão ma này chỉ đề cập đến yếu tố giá nhà giảm sút chỉ đơn thuần là một “sự điều chỉnh” mà “không thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế hoặc hệ thống tài chính”.05 yield curve chuyen sang dang phang bao hieu truoc khung hoang
Cho đến tận thời điểm này, Ben Bernanke cũng như bao quan chức FED khác không biết vô tình hay hữu ý liên tục cảnh báo về sự nguy hiểm của lạm phát đồng thời ra sức trấn an công chúng vào sự điều chỉnh trên thị trường nhà đất, nhà đầu tư có quyền kì vọng vào một đợt tăng lãi suất vào cuối năm 2007, hoặc đầu năm 2008.
Nếu là một người có kiến thức căn bản và là một người nhớ bài học lịch sử(*) thì trader đó hiển nhiên biết những lời trấn an này của the FED đi ngược với những điều biểu đồ yield curve diễn giải. Theo đó thì, lợi tức trái phiếu dài hạn đã suy giảm về mức bằng hoặc thấp hơn lợi tức trái phiếu ngắn hạn. Đây là điều hết sức vô lý trong một môi trường kinh tế đang phát triển bình thường. Theo lẽ thường tình, trái phiếu có kỳ hạn càng cao thì rủi ro càng tăng cho nên lợi tức của nó phải càng cao. Trong những năm tháng trước khủng hoảng 2007 thì ngược lại. Trái phiều kỳ hạn càng cao lợi tức lại càng thấp trong khi nền kinh tế vẫn mở rộng là một điều vô lý! Vận động khác thường của yield curve chính là minh chứng cho smart $ đang lo ngại về viễn ảnh của một kinh tế tương lai không mấy khả quan, và là một dấu hiệu rõ nhất cảnh báo nền kinh tế đã đang ở đỉnh của chu kỳ tăng trưởng. Khi mối lo này dâng cao thì smart $ chạy vào trái phiếu, đặc biệt là các bond có kỳ hạn dài. Điều này làm cho giá trái phiếu tăng cao và đồng thời lợi tức trái phiếu xuống thấp. Trong lịch sử từng xảy ra không dưới 11 lần yield curve đảo ngược như này, và trong mỗi tình huống như thế, hành động của the FED là cắt giảm lãi suất chứ không phải là tăng lãi suất vì mối lo lạm phát dâng cao như FED từng diễn giải, trấn an market như bên trên.
(*)Ghi chú: Bài học lịch sử ở đây ý muốn nói đến xác xuất dự báo chính xác tới 86% của yield curve trong mỗi lần nó đảo ngược là kinh kinh tế sẽ đi vào suy thoái tính từ 1929- 2008.
Biểu đồ dưới đây cho thấy tầm quan trọng của việc theo dõi diễn biến của thị trường trái phiếu để tiên đoán hướng đi của thị trường tiền tệ. Theo đó thì sự kiện bond spread thu hẹp (đường cong lợi tức đảo ngược) xảy ra trùng với thời điểm đồng dollar mỹ bắt đầu đi xuống.06 bond spread thu hep, yield curve dao nguoctrung hop voi thoi diem dong USD suy yeu
Lịch sử đã đúng, yield curve đã đúng, bond spread đã đúng chứ không phải là the FED, đồng đô-la đã tuân theo quy luật của sự đảo ngược đường cong lợi tức. Để rồi suy yếu từ đó chứ không phải tiếp tục đi lên theo như lời trấn an của FED chair man rằng kinh tế vẫn đăng trưởng, áp lực lạm phát đang dâng cao và họ sẽ vẫn còn tăng lãi suất. Nếu chiếu theo những lời trấn an này của một cơ quan quyền uy bậc nhất như the FED mà bỏ qua những vận động bất thường của thị trường trái phiếu thì đồng USD phải tăng tiếp trong tương lai. Nhưng thực tế thì sau khi tăng 15% vào năm 2005, chỉ số đô-la đã leo lên đỉnh vào tháng Mười Một năm 2005. Đồng bạc xanh đã trụ vững ở mức này trong suốt 8 tuần đầu tiên của năm 2006, trước khi tạo đỉnh vào tuần thứ hai của tháng Ba năm 2006. Thời điểm này là hai tháng sau khi đường cong lợi tức đảo ngược. Sau đó, đồng đô-la bắt đầu thời kỳ giảm giá kéo dài đến tháng Tư và tháng Năm năm 2006, khi Cục Dự trữ liên bang thông báo kết thúc chiến dịch tăng lãi suất kéo dài hai năm. Vào cuối năm 2006, đồng euro đã tăng giá trở lại mức 1 EUR = 1,30 USD đạt được hồi tháng Tư năm 2005 khi tăng trưởng kinh tế Mỹ thấp hơn so với khu vực sử dụng đồng Euro, Anh, Canada, úc và Nhật.07 dong USD suy yeu day cap EURUSD tang cao suot thoi ky duong cong loi tuc dao nguoc08 dong USD suy yeu day cap GBPUSD tang cao09 Dong USD suy yeu day cap AUDUSD tang cao
GÓC NHÌN LIÊN THỊ TRƯỜNG CHO STOCK TRADER
Trước những trấn an của một cơ quan quyền năng tối cao như the FED, thị trường chứng khoán toàn cầu và Mỹ đã bật lên một cách mạnh mẽ, liên tục lập kỉ lục mới vào quý 2 năm 2007 sau đợt tháo hồi cuối tháng Hai đầu tháng Ba, khi mà thị trường Trung Quốc đã bị mất 9% và hàng loạt báo cáo cho thấy tình hình bi quan của nền kinh tế Mỹ đã làm lung lay niềm tin của nhà đầu tư.
Cho đến thời điểm này, các quan chức FED vẫn quả quyết rằng nền kinh tế Mỹ sẽ miễn dịch trước sự tụt dốc của thị trường nhà đất với niềm tin rằng tác nhân tiêu cực này vẫn đang bị giới hạn trong thị trường cho vay thứ cấp (gồm các khoản nợ dưới chuẩn). Những tuyên bố chính thức đó được đưa ra trong bối cảnh tỷ lệ tăng GDP đã giảm từ 4,6% trong quý 1 năm 2006 xuống thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng danh nghĩa lần lượt là 2,4%, 1,1%, 2,1% và 0,6% trong 4 quý liên tục. Vào quý 2 và quý 3 năm 2007, tỷ lệ tăng trưởng GDP tăng trở lại tương ứng là 3,8% và 4,9%, nguyên nhân chủ yếu là do sự khởi sắc của hoạt động xuất khẩu nhờ đồng đô-la giảm giá, nhu cầu của Mỹ giảm, và tăng trưởng nước ngoài mạnh. Nhưng con số tăng trưởng GDP ròng này không thể hiện được tình trạng u ám của thị trường nhà đất và sự suy giảm tính thanh khoản của thị trường.
Khi Fed đưa ra dự báo rằng kinh tế Mỹ sẽ tiếp tục tăng trưởng trong quý 2 năm 2007, các công ty chứng khoán tư nhân đã đẩy mạnh giao dịch, hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất cũng trở nên sôi động hơn khi tâm lý ưa thích rủi ro quay trở lại và đẩy đồng yên Nhật xuống mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây. Trong lúc đó, diễn biến trên thị trường nhà đất có chiều hướng xấu đi, doanh số nhà mới xây đã giảm 25% so với cùng kì năm trước, con số thống kê hàng tháng về số lượng lao động làm việc trong lĩnh vực xây dựng đã rơi xuống thấp hơn mức bình quân ba tháng, trong khi số lượng nhà mới xây và giấy phép xây dựng được cấp (building permits and housing starts) đã giảm 25% tới 30% so với cùng kì năm trước, xuống mức thấp nhất trong 10 năm.
Vào tháng Bảy năm 2007, cuối cùng thì các thị trường tài chính cũng phải thừa nhận thất bại khi các hãng xếp hạng tín dụng hạ bậc xếp hạng 10 tỷ chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản vay và thế chấp có chất lượng tín dụng kém. Chỉ trong vòng một tháng, các quỹ phòng hộ rủi ro công bố con số thua lỗ là 30% – 40%, trong khi các tổ chức còn lại bị phá sản sau khi làm tiêu tan toàn bộ vốn liếng đầu tư của khách hàng. Vào tháng Tám, lãi suất thị trường tăng lên trong bối cảnh lòng tin của các tổ chức tín dụng đang bị khủng hoảng nghiêm trọng đã khiến doanh số cho vay của thị trường liên ngân hàng giảm xuống một nửa. Các chỉ số chứng khoán giảm từ 4% đến 7% mỗi tuần trong khi chỉ số VIX(*) tăng lên mức kỷ lục trong 4 năm qua.
(*) Ghi chú: VIX- viết đầy đủ là CBOE volatility index, chỉ số đo lường mức độ biến động trong thị trường. VIX còn được biết đến dưới tên gọi chỉ số sợ hãi (fear index). Lý do gọi như thế là bởi vì mỗi khi chỉ số này tăng cao thì thị trường chứng khoán lại sụt giảm. VIX tăng cao hơn 40 thường là ứng với các thời kỳ suy thoái xảy ra trong thị trường chứng khoán. Ngược lại trong các thời kỳ VIX ổn định dưới mức 20, thị trường chứng khoán thường tăng mạnh. Cách thức xài VIX trong phân tích liên thị trường là nhìn vận động của nó để đi kiếm tâm tư của người chơi trong cuộc. VIX tăng mạnh là “nỗi sợ” trong lòng người đầu tư dâng cao; VIX giảm thấp là “niềm tin- lòng tham” người ta đang chiếm ưu thế.10 chi so VIX tang len muc cao ky luc
Chỉ 9 ngày sau khi Fed tuyên bố giữ nguyên mức lãi suất 5,25% và phát biểu rằng lạm phát vẫn là “mối quan tâm về chính sách đang chiếm ưu thế” , ủy ban phụ trách Thị trường mở Liên bang đã triệu tập một cuộc họp khẩn cấp và quyết định cắt giảm mức lãi suất chiết khấu xuống 50 điểm. Chưa đầy hai tuần sau khi Fed tuyên bố rằng “nguy cơ về sự sụt giảm tăng trưởng đã tăng lên”, cụm từ này đã được sửa lại thành “tăng đáng kể” nhưng tuyệt nhiên không đề cập gì đến lạm phát. Diễn biến trên thị trường ngày một xấu đi, số lượng ngân hàng đệ đơn xin phá sản ngày càng nhiều và vô số dấu hiệu suy yếu kinh tế xuất hiện với mật độ dày đặc, đây chính là nguyên nhân buộc NHTW phải cắt giảm lãi suất xuống 100 điểm vào năm 2007, tiếp sau đó là một đợt cắt giảm đột ngột chưa từng có tiền lệ, xuống 125 điểm chỉ trong chín ngày vào tháng Giêng năm 2008, kéo lãi suất Fed xuống còn 3%.11 Bond spread thu hep truoc su sup do cua chung khoan my12 mo hinh 2 dinh cua loi tuc chung khoan my 10 nam bao hieu su sup do cua chung khoan my
Khi market crash, nỗi sợ trong lòng người trader và investor dâng cao đẩy người ta tìm về các lớp tài sản mang tính trú ẩn và Yên Nhật là một trong số đó. Điều này được thể hiện trong biểu đồ dưới đây. Khi u.s stock có những vận động suy thoái đầy tiên cũng là lúc cặp tiền EURJPY hình thành mô hình broadening top đảo chiều.13 market crash day dong tien tim ve JPY tru an