QUY LUẬT 2̶0̶/̶8̶0̶ 80/20

QUY LUẬT 2̶0̶/̶8̶0̶ 80/20
Mọi người hầu như ai cũng biết quy luật 80/20.

ecoblader - quy luật 80 20
Và cũng nhiều người ứng dụng triệt để. Họ cố gắng dùng 20% công sức của mình để đạt được 80% giá trị, và tự hào vì sự hiệu quả của mình.
Nhưng họ quên một điều.
Đúng là 20% công sức đầu tiên tạo nên 80% giá trị, nhưng là 80% giá trị phổ thông.
Chính 20% giá trị còn lại mới tạo nên 80% khác biệt. Và cũng chính 20% khác biệt sau cùng đó mới là thứ tạo nên thành công.
Bạn có thể bỏ 20% công sức là đủ chơi thuần thục guitar 80%.
Nhưng chính 20% độ khó cuối cùng mới tạo nên một tay guitar thượng hạng.
Bạn có thể bỏ 20% công sức, thậm chí ít hơn, để tạo nên một trang mạng xã hội bằng 80% Facebook.
Nhưng chính 20% còn lại khiến Facebook là Facebook.
Bạn có thể bỏ chỉ 20% công sức để tập tành và giống người thành đạt 80%.
Nhưng chính 20% cuối cùng mới thực sự khiến bạn trở nên thành đạt.
Trong nhiều trò chơi quan trọng nhất cuộc đời không có chỗ cho sự nửa vời. Hãy nhớ rằng 20% xao nhãng đủ để làm nên 80% thất bại.
Hãy nghĩ lại đi, tại sao con số 80 lại nằm trước? Đó là vì bản chất của nó nhấn mạnh rằng 80% gian khổ mới là thứ tạo nên 20% quý giá cuối cùng.

[SẢN PHẨM BẤT THƯỜNG – THÀNH CÔNG KHÔNG TƯỞNG] BUGASALT – KHẨU SÚNG BẮN RUỒI

Bạn có bao giờ cảm thấy cực kì bực mình khi mấy con ruồi cứ vo ve xung quanh?

ecoblader - bugasalt
Vậy thì bắn chết tụi nó đi!
Diệt ruồi bằng mấy chai thuốc xịt côn trùng hay bằng cách treo bịch nước lên trên đã quá là tầm thường rồi. Vào năm 2012, Công ty SKELL đã giới thiệu với toàn thế giới khẩu súng bắn ruồi BugASalt chuyên dùng để hạ sát ruồi. Chỉ đơn giản nạp muối ăn vào súng, bạn đã có một khẩu shotgun bắn muối để vừa có thể tiêu diệt được lũ ruồi khó chịu, vừa có thể luyện bắn súng để thi Olympics.
Thoạt nghe cứ như đùa ấy, nhưng trò đùa này đã thành công không tưởng. Cú crowdfunding sản phẩm đầu tiên trên Indiegogo của BugASalt đã thu hút được 10.764 người chi tổng cộng 577.636 USD để biết ý tưởng này thành hiện thực. Những vị khách hàng này đã sẵn lòng chi 30 USD cho mỗi khẩu BugASalt cực ngầu như clip ở trên.
Rõ ràng thứ vũ khí diệt ruồi tối thượng này ăn nên làm ra, khi mà SKELL vẫn đang tiếp tục giới thiệu các phiên bản mới, ví dụ như khẩu Camofly 2.0 kiểu dáng quân đội, với khả năng bắn ra 3 loại đạn muối với độ dày đặc khác nhau. Các chiến dịch crowdfunding của BugASalt tiếp tục vượt kì vọng, còn khách hàng thì phản hồi rất tích cực về sản phẩm cực độc này.
Cái mà BugASalt đã làm được không phải là cung cấp một giải pháp diệt ruồi hoàn hảo (phải luyện dữ lắm mới bắn trúng nổi). Sản phẩm thực sự của BugASalt là “dịch vụ” biến những trải nghiệm khó chịu (ruồi nhặng bay xung quanh) thành những giờ phút vui vẻ nhất đời (thử hỏi, ai chẳng một lần muốn thành xạ thủ). Mà bao giờ chả vậy, niềm vui luôn là sản phẩm đắt hàng.
Nếu muốn sở hữu một khẩu shotgun BugASalt, các bạn có thể đặt hàng ở trangBugASalt.com. Chúc các bạn may mắn và bắn được nhiều ruồi!

KĨ NĂNG BUÔNG BỎ

KĨ NĂNG BUÔNG BỎ
Nếu bạn thấy bản thân còn nhiều khó khăn, đau buồn, hay tức giận và thiếu quyết đoán, có lẽ Kĩ năng buông bỏ sẽ giúp bạn rất rất nhiều.
Buông bỏ là một kĩ năng cực kì quan trọng trong cuộc sống, khi mà không phải lúc nào ta cũng có thể có được thứ mình muốn. Biết buông bỏ sẽ giúp ta thêm hài lòng và có nhiều niềm vui trong cuộc sống.
Quyển sách này sẽ cho bạn cách giải quyết các vấn đề đang gặp phải và từ từ vượt lên trên mọi khó khăn, trắc trở.
Vì đây là một quyển sách có thể mang lại niềm vui cho bất kì ai, nên ecoblader quyết định tặng bạn miễn phí. Bạn hãy share cho nhiều người quanh mình nhé!
Kĩ năng buông bỏ Book Cover Kĩ năng buông bỏ 
 Leo Babauta 
 Phát triển cá nhân 
 Ecoblader Free Ebook Project 
 29/07/2015 
 113 

DEREK REDMOND

Olympics Barcelona 1992.

ecoblader - derek redmond
Ở vòng bán kết nội dung 400m nam, 8 vận động viên bắt đầu xuất phát sau hiệu lệnh của trọng tài.
Khi kết thúc khoảng 150m đầu tiên, vận động viên người Anh Derek Redmond chợt khựng lại và khuỵu xuống, mặt vô cùng đau đớn. Anh bị đứt gân kheo. Bộ phận y tế bắt đầu chạy đến.
Phải nói thêm, sự nghiệp của Derek luôn bị chấn thương ám ảnh. Ở Olympics Seoul 1988, anh đã phải bỏ cuộc trước khi vào đường chạy 90 giây vì chấn thương. Trước Olympics Barcelona 1992, anh đã phải phẫu thuật 8 lần, và Olympics lần này là cơ hội cuối cùng của anh.
Khi mọi việc tưởng như đã kết thúc, bỗng mọi người thấy Derek bắt đầu chạy tiếp bằng chân còn lại. Cha anh, ông Jim Redmond, bất chấp sự ngăn cản của bộ phận bảo vệ, chạy đến khuyên anh ngừng lại:
– Con không cần phải làm vậy đâu.
– Con phải chạy hết.
– Vậy thì, hai cha con cùng chạy.
Ngưng ngăn cản, Jim bắt đầu hỗ trợ con mình.
Khi họ về đến đích, 65 nghìn khán giả ở khắp sân vận động đứng dậy vỗ tay thán phục hai cha con họ.
Từ trước đến nay, chiến thắng không bao giờ là thứ quan trọng nhất ở Olympics, tinh thần thể thao mới là tất cả. Anh có thể bỏ cuộc trước khi xuất phát, nhưng một khi đã chấp nhận vào đường chạy với đích đến trước mắt, thì hãy gắng hết sức chạy hết đoạn đường.
Nếu bạn đã chấp nhận đi trên con đường mình đã chọn và có ý nghĩ từ bỏ trước khi đi đến đích cuối cùng, thì ít nhất hãy nhớ những gì Derek Redmond với cái chân đau đã làm ở Barcelona năm ấy.

Bí quyết thành công của ông là gì ?

Bí quyết thành công của ông là gì ?
       Có người hỏi một nhà doanh nghiệp thành đạt: “Bí quyết thành công của ông là gì ?”. Ông không chút do dự trả lời: “Thứ nhất là kiên trì, thứ hai là kiên trì và thứ ba vẫn là kiên trì”, nhưng điều thứ tư dẫn tới thành công chính là việc dám từ bỏ để tìm mục tiêu khác..
      Kiên trì và từ bỏ không bao giờ mâu thuẫn mà là 2 vấn đề khác nhau
      Thực ra trong từng điều kiện cụ thể, từ bỏ lại là con đường khác để dẫn đến thành công.
Con người có thể không quen với việc từ bỏ, bởi vì thắng lợi thường được tạo nên từ sự kiên trì và nỗ lực.
     Không ít người, trên con đường phấn đấu, chỉ nỗ lực hơn một chút, kiên nhẫn hơn một chút thì sẽ có được thành công, nhưng khi từ bỏ thì sao, kết quả là bạn sẽ mất đi những thành công gần như đã có trong tay.
     Tuy nhiên, trong một số trường hợp, dù bạn đã cố gắng rất nhiều, mà không giành được những kết quả như mong muốn. Lúc đó bạn nên suy nghĩ kĩ một chút.
Nếu mục tiêu mình đặt ra không phù hợp với khả năng của bản thân, bạn nên dũng cảm từ bỏ, đi tìm một con đường khác.
     Trong quân sự có người nói thế này “Có thể đánh thắng được thì hãy đánh, còn không đánh thắng được thì nên chạy”, biết rõ mình không phải là đối thủ của quân địch, không có hy vọng chiến thắng, chẳng khác gì lấy trứng chọi với đá, vô duyên vô cớ hy sinh sự sống như vậy có phải là quá lãng phí hay không ? Lúc đó biện pháp tốt nhất là: “Đánh không thắng thì nên chạy”. Đây không phải là nhát gan mà là sự dũng cảm có trí tụê. “Dũng cảm thừa nhận mình đã lựa chọn sai” để tìm con đường khác đi đến chiến thắng.
      Đương nhiên, dám từ bỏ không phải là việc dễ dàng, cũng không được tuỳ tiện từ bỏ mà phải bình tĩnh đối mặt với tất cả, vừa phải biết nắm giữ cơ hội, vừa phải biết nỗ lực hết mình, đồng thời phải từ bỏ những mục tiêu hoang tưởng mà bản thân khó có thể thực hiện, nhưng cũng đừng vội vàng, oán trách, hay bi quan. Sống ở trên đời không thể không theo đuổi hay phấn đấu để thực hiện một mục tiêu nào đó. Nhưng nếu chúng ta chỉ biết theo đuổi không mệt mỏi mà không biết từ bỏ thì chúng ta không thể đạt được đến đích. Kết quả là chúng ta đã lãng phí thời gian và sức lực, cộng với sự thất vọng, buồn bã khi làm việc không thành công. Vì vậy cách nhìn nhận đúng đắn nhất ở đây là phải theo đuổi mục tiêu nhưng nếu mục tiêu vượt quá khả năng của bản thân ta thì phải từ bỏ
Những cái cần làm thì phải làm và chú tâm vào để mà làm. Những cái không nên làm hoặc không làm được thì nên chủ động từ bỏ, đừng tiếc nuối.
      Đối với việc lập nghiệp, từ bỏ là một điều rất khó để quyết định của những người đang trên con đường lập nghiệp. Tuy nhiên trong những điều kiện thích hợp, từ bỏ lại là sự thành công. Bởi vì sự từ bỏ thích hợp có thể làm bạn tập trung sức lực , thời gian để làm những việc có ý nghĩa hơn với những mục tiêu mới phù hợp với bản thân mình
       Sự từ bỏ nhiều lúc sẽ làm cho con người ta cảm thấy đau khổ và hối tiếc.
Nhưng một khi chọn mục tiêu vượt quá khả năng của mình thì sẽ trở nên bế tắc mà không tìm ra được lối đi để rồi khiến mình càng ngày càng rơi vào thế bí, nếu cứ cố gắng chạy mục tiêu đó thì cơ hội thành công sẽ rất ít , thà rằng cứ chấp nhận sai và từ bỏ để tìm mục tiêu khác thích hợp với bản thân mình thì sẽ tốt hơn.

Đầu cơ - 1

Đầu cơ - 1
Để các nhà đầu tư nhỏ không bán ra chốt lãi, cách tốt nhất là liên tục đặt mua cổ phiếu giá trần với khối lượng lớn ngay từ đầu phiên giao dịch.
Một chuyên viên môi giới cho biết, các tay đầu cơ hiểu rất rõ tâm lý các nhà đầu tư nhỏ. Để các nhà đầu tư nhỏ không bán ra chốt lãi, cách tốt nhất là liên tục đặt mua cổ phiếu giá trần với khối lượng lớn ngay từ đầu phiên giao dịch.
Nhìn cổ phiếu luôn được đặt mua giá trần với khối lượng lớn, các nhà đầu tư nhỏ sẽ nghĩ rằng cổ phiếu còn có thể tăng giá, nên yên tâm nắm giữ. Nhờ đó, các nhà đầu cơ đủ thời gian làm giá và dần xả hàng.
Cho đến khi số cổ phiếu thoát đã gần hết, lượng cổ phiếu cuối cùng sẽ được các nhà đầu cơ ồ ạt bán tháo với mục đích xả hàng đè giá cover lại. Cứ như vậy, các nhà đầu cơ liên tục tạo sóng, rồi chốt lãi, xả hàng để dìm giá, rồi lại tạo sóng.
Ông XXX, Trưởng phòng Phân tích Đầu tư, Công ty Chứng khoán ABC, cho rằng, khi thị trường đã có nhiều nhà đầu tư tin vào tín hiệu kỹ thuật thì các nhà đầu cơ sẽ là những người vẽ đồ thị. Rủi ro thay là phần lớn phân tích của các công ty chứng khoán hiện nay thường tư vấn các nhà đầu tư theo cách chỉ mô tả tín hiệu kỹ thuật để đoán định xu hướng (ngắn hạn) tiếp theo.
Giả sử, với việc các nhà đầu cơ cố tình vẽ đồ thị kỹ thuật rất xấu ở phiên cuối tuần này, đương nhiên các nhận định của các công ty chứng khoán cho tuần kế tiếp sẽ theo chiều hướng xấu. Điều đó sẽ lại khiến các nhà đầu tư ít kinh nghiệm dao động mà bán ra cắt lỗ. Nếu các nhà đầu tư nhỏ cứ mua bán theo phong trào và bị cuốn trong cuộc chơi của các nhà đầu cơ thì sẽ mãi mãi bị thua lỗ.
Do đó, khi đã biết chiêu bài của các tay đầu cơ, các nhà đầu tư nhỏ cần phải linh hoạt để tương kế tựu kế. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, thị trường chứng khoán vẫn chưa thể tăng trưởng bền vững, các nhà đầu tư nên thận trọng đặt ra tỉ suất sinh lời ở mức thấp.
Đối với chiến lược mua vào, chỉ nên mua khi thị trường có tin cực xấu, VN-Index tạo đáy mới, giá cổ phiếu đã giảm mạnh nhiều phiên liên tiếp và bán ra khi thị trường hưng phấn.
Theo ông XYZ, Trưởng Phòng Phân tích, Công ty Chứng khoán AXX, điểm mua an toàn là khi giá cổ phiếu đã giảm sàn ít nhất 2 - 3 phiên liên tiếp và mất thanh khoản. Còn điểm chốt lãi trong một đợt thị trường hồi phục là kể từ lúc bắt đầu giải ngân (bắt đáy), tài khoản đạt mức sinh lời trung bình từ 20 - 30%. Khi đó, nên thoát khỏi thị trường và chờ cơ hội khác.
Còn theo chuyên gia kinh tế XOO nọ thì cho rằng, điều quan trọng là nhà đầu tư phải vạch ra kế hoạch giải ngân theo các kịch bản thị trường mà mình đã đặt ra trước khi mua cổ phiếu. Chẳng hạn, nếu VN-Index giảm về 600 điểm thì sẽ giải ngân bao nhiêu , xuống 580 thì giải ngân bao nhiêu , xuống 550 thì giải ngân bao nhiêu. Khi VN-Index tăng lại, mức lãi kỳ vọng sẽ là bao nhiêu. Nhà đầu tư nên tuân thủ theo chiến lược đã vạch ra để không bị ảnh hưởng bởi tâm lý. Thị trường bị giảm mạnh nhiều phiên thì sẽ có đợt phục hồi. Thị trường giảm ít, thời gian tăng cũng sẽ ngắn. Nếu thị trường bị giảm sâu và kéo dài, đợt phục hồi cũng lâu và mạnh tương ứng.
“Nắm bắt quy luật vận động của thị trường, cùng với kinh nghiệm giao dịch và việc tuân thủ theo chiến lược đã vạch ra, nhà đầu tư sẽ thành công hoặc ít nhất không bị rủi ro”

Triết lý trong phân tích kỹ thuật

Triết lý trong phân tích kỹ thuật
Trước khi bắt đầu nghiên cứu những kĩ thuật và công cụ cụ thể được sử dụng trong phân tích kĩ thuật, điều cần thiết đầu tiên phải định nghĩa phân tích kĩ thuật là gì, thảo luận những tiền đề triết học mà nó dựa trên, đưa ra những khác biệt rõ ràng giữa phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật, cuối cùng trả lời cho cặp chỉ trích thường xuyên được nêu ra phản bác phân tích kĩ thuật.
Đầu tiên: định nghĩa chủ đềPhân tích kĩ thuật là nghiên cứu diễn biến giá, chủ yếu sử dụng đồ thị, với mục đích dự đoán xu thế giá tương lai. 

Phương pháp phân tích kỹ thuật được xây dựng dựa trên 3 tiên đề:
1. Diễn biến thị trường phản ánh mọi thứ.
2. Giá chuyển động theo xu hướng.
3. Lịch sử lập lại.
 

Diễn biến thị trường phản ánh mọi thứ
Lời tuyên bố diễn biến thị trường phản ánh mọi thứ có thể được xem là nền tảng của phân tích kỹ thuật. Nếu như tầm quan trọng của tiên đề đầu tiên này không được hiểu đầy đủ và được công nhận, những điều được nói phía sau thực sự chẳng có ý nghĩa gì cả. Những người phân tích kỹ thuật tin rằng bất kỳ thứ gì có thể ảnh hưởng tới giá (các yếu tố cơ bản, chính trị, tâm lý, vv) đều được phản ánh trên giá cả của thị trường đó. Vì vậy, việc nghiên cứu diễn biến giá cả là điều duy nhất được yêu cầu. Mặc dù luận điệu này có vẻ quá táo bạo, nhưng chúng ta sẽ thấy thật khó để phản bác lại nếu chịu bỏ thời gian tìm hiểu ý nghĩa đích thực của nó.
Tất cả các nhà phân tích kỹ thuật (technician) khẳng định rằng diễn biến giá cả phản ánh sự thay đổi giữa cung và cầu. Nếu cầu vượt cung, giá phải tăng. Nếu cung vượt cầu, giá phải giảm. Quá trình này là cơ sở của tất cả các dự báo kinh tế và cơ bản. các technician sau đó lại lật ngược vấn đề và kết luận rằng nếu giá cả tăng, vì bất kỳ một lý do nào, cầu phải vượt cung và các yếu tố cơ bản phải khả quan. Nếu giá cả rớt, các yếu tố cơ bản phải trở nên bất lợi. Chúng ta không có gì phải ngạc nhiên khi những lời nhận xét về các yếu tố cơ bản được đưa ra trong khi đang bàn về phân tích kỹ thuật. Nói chung là các technician đang gián tiếp nghiên cứu những yếu tố cơ bản. Hầu hết họ đều đồng ý rằng chính lực cung và cầu hay những yếu tố cơ bản là nguyên nhân tạo nên dao động thị trường. Biểu đồ không thể khiến cho thị trường đi lên hay xuống được. Nó chỉ phản ánh tâm lý lạc quan hay bi quan của thị trường.
Như một nguyên tắc, những nhà phân tích biểu đồ (chartist) không quan tâm đến lý do tại sao giá tăng hay giảm. Thường thì vào giai đoạn đầu của một xu hướng giá hay tại những điểm ngoặt, không ai có thể biết chính xác tại sao thị trường lại diễn ra như vậy. Mặc dù phương pháp kỹ thuật thỉnh thoảng bị đơn giản thái quá, lô-gích đằng sau tiên đề đầu tiên này sẽ trở nên thuyết phục hơn nếu chúng ta có được nhiều kinh nghiệm thị trường hơn. Điều này có nghĩa rằng nếu những thứ mà tác động lên giá thị trường cuối cùng cũng được phản ánh trong giá thị trường, thì việc nghiên cứu giá cả là điều cần thiết duy nhất. Bằng cách nghiên cứu biểu đồ giá và một loạt những chỉ số kỹ thuật hỗ trợ, những chartist trên thực tế để cho thị trường cho họ biết nó có khả năng cao nhất sẽ đi theo hướng nào. Họ không cần thiết phải cố gắng để thắng thị trường. Tất cả những dụng cụ kỹ thuật được thảo luận phía sau đơn giản chỉ là những kỹ thuật được sử dụng để hỗ trợ họ trong quá trình nghiên cứu diễn biến thị trường. Những chartist hiểu rằng thị trường lên hay xuống chắc chắn phải có lý do. Họ chỉ không tin rằng biết được những lý do đó là cần thiết trong quá trình dự báo.
 
Giá chuyển động theo xu hướng
Khái niệm về xu hướng tuyệt đối quan trọng trong phương pháp kỹ thuật. Mục đích của vẽ diễn biến giá của một thị trường là xác định những xu hướng trong giai đoạn đầu phát triển để chúng ta có thể dựa vào đó mà giao dịch theo đúng chiều của xu hướng. Trên thực tế, hầu hết những kỹ thuật được sử dụng trong phương pháp này thực chất là đi theo xu hướng, có nghĩa là mục tiêu của những kỹ thuật này là xác định ra những xu hướng hiện thời và đi theo chúng.
 
Hệ quả của tiên đề này là giá chuyển động theo xu hướng – một xu hướng đang chuyển động có khuynh hướng chuyển động cùng chiều hơn là đảo chiều. Hệ quả này là sự áp dụng của định luật 1 Newton về chuyển động. Chúng ta có thể nói theo cách khác là một xu hướng đang chuyển động sẽ tiếp tục chuyển động cùng chiều cho đến khi nó đảo chiều. Điều này có vẻ lòng vòng lẩn quẩn nhưng toàn bộ phương pháp đi theo xu hướng đều dựa trên việc lướt theo xu hướng sẵn có cho đến khi nó có dấu hiệu đảo chiều. 
Lịch sử lập lại
Phần lớn nội dung của phân tích kỹ thuật và nghiên cứu diễn biến thị trường liên quan tới việc nghiên cứu tâm lý con người. Ví dụ những mẫu hình trên biểu đồ được xác định và xếp loại trong hơn một trăm năm qua, chúng có khả năng phản ánh một số hình ảnh nhất định trong biểu đồ giá. Những hình ảnh này tiết lộ tâm lý phấn khởi hay bi quan của thị trường. Những mẫu hình được xây dựng dựa trên việc nghiên cứu tâm lý con người mà tâm lý và tính cách của con người thì dường như không thay đổi theo thời gian. Bởi vậy nếu mẫu hình nào cho kết quả tốt trong quá khứ, người ta tin rằng nó sẽ tiếp tục cho kết quả tốt trong tương lai. Hay nói cách khác, để hiểu rõ tương lai, chúng ta phải lật lại quá khứ, hay tương lai chỉ là sự lập lại của quá khứ.
 

Dự đoán bằng kĩ thuật so với cơ bản.
Trong khi phân tích kĩ thuật tập trung vào nghiên cứu diễn biến thị trường, phân tích cơ bản tập trung vào lực cung cầu của nền kinh tế làm cho giá tăng lên, giảm xuống hay không thay đổi. Phương pháp cơ bản xem xét tất cả các yếu tố liên quan tác động đến giá trên thị trường để xác định giá trị thực của thị trường. Giá trị thực là điều mà nhà cơ bản cho rằng thật sự đáng dựa trên quy luật cung cầu. Nếu giá trị thực thấp hơn trong thị giá hiện thời, vậy thì thị trường định giá quá cao và nên bán đi. Nếu thị giá hiện thời thấp hơn giá trị thực, vậy thị trường đang định giá thấp và nên mua.
Cả hai phương pháp dự đoán này cố giải quyết vấn đề, đó là xác định hướng đi chuyển của giá. Họ chỉ tiếp cận vấn đề từ các chiều khác nhau. Các nhà phân tích cơ bản nghiên cứu nguyên nhân vận động của thị trường, trong khi các nhà phân tích kĩ thuật nghiên cứu kết quả. Dĩ nhiên, các nhà phân tích kĩ thuật cho rằng kết quả là tất cả, điều cô hoặc anh ta muốn hay cần biết và nguyên nhân hay lý do là không cần thiết. Các nhà cơ bản luôn phải biết tại sao.
Hầu hết các người giao dịch tự phân chia thành hoặc là những người phân tích cơ bản hoặc là phân tích kĩ thuật. Thực sự, không có nhiều khác biệt. Nhiều nhà phân tích cơ bản dùng kiến thức thực nghiệm của nguyên lý cơ bản phân tích biểu đồ. Đồng thời, nhiều nhà phân tích kĩ thuật ít nhất có kiến thức chung về phân tích cơ bản. Vấn đề là biểu đồ và các yếu tố cơ bản thường xung đột lẫn nhau. Thông thường tại những điểm bắt đầu của một xu hướng quan trọng của thị trường, các yếu tố cơ bản không lý giải hoặc hỗ trợ diễn biến hiện thời của thị trường. Đó là những thời điểm quan trọng trong xu thế mà hai phương pháp này có vẻ khác nhau nhiều nhất. Thông thường họ đáp lại bằng những quan điểm đồng bộ, nhưng những người giao dịch quá trễ để hành động.
Một lý giải cho những khác biệt bên ngoài này là giá thị trường có khuynh hướng đi trước những yếu tố cơ bản được biết. Nói cách khác, giá thị trường hoạt động như là chỉ báo chủ đạo của các yếu tố cơ bản hay là những hiểu biết chính yếu lúc này. Khi mà những yếu tố cơ bản được biết đã phản ánh vào Thị trường và nó đã “trong thị thường”, giá hiện thời phản ánh những yếu tố cơ bản chưa biết. Trong hầu hết các đợt thị trường tăng giảm mạnh trong quá khứ bắt đầu khi các yếu tố cơ bản hay đổi ít hoặc không nhận biết được. Lúc này, những thay đổi mới được biết tới, xu thế mới đang diễn tiến tốt.
Một lúc sau, các nhà phân tích kĩ thuật tự tin hơn về khả năng phân tích biểu đồ của anh ta. Các nhà phân tích kĩ thuật học cách thoải mái khi mà thị trường diễn biến giống với cái gọi là sự hiểu biết thông thường. Một người phân tích kĩ thuật cảm thấy thoải mái khi ở trong thiểu số. Anh ta biết rằng cuối cùng những lý do về diễn biến của Thị trường sẽ phổ biến. Đó chính là điều mà các nhà phân tích kĩ thuật không sẵn sàng chờ xác nhận thêm.
Khi chấp nhận các giả thuyết phân tích kĩ thuật, người ta có thể hiểu tại sao các nhà phân tích kĩ thuật tin rằng phương pháp của họ tốt hơn các nhà phân tích cơ bản. Nếu một người giao dịch phải chọn chỉ một trong hai phương pháp để sử dụng, sự lựa chọn hợp lý phải là phân tích kĩ thuật. Bởi vì, theo định nghĩa, phương pháp kĩ thuật bao gồm cơ bản. Nếu các yếu tố cơ bản phản ánh vào thị trường, vậy thì việc nghiên cứu các yếu tố cơ bản đó không cần thiết. Phân tích biểu đồ trở nên một hình thức ngắn gọn của phân tích cơ bản. Tuy nhiên, điều ngược lại thì không đúng. Phân tích cơ bản không bao gồm việc nghiên cứu diễn biến giá. Có thể giao dịch trong thị trường tài chỉnh mà chỉ dùng phân tích kĩ thuật. Không nghi ngờ rằng không người nào chỉ dùng phân tích cơ bản mà không xem xét đến các yếu tố kĩ thuật của thị trường.

Phân tích so với xác định thời điểm
Quan điểm cuối cùng này phải được làm rõ nếu quá trình ra quyết định được chia thành 2 giai đoạn – phân tích và xác định thời điểm.
Bởi vì yếu tố đòn bẩy cao trong trong thị trường tương lai, việc xác định thời điểm đặc biệt quan trọng trong đấu trường đó. Bạn có thể đúng trong xu thế lớn của thị trường nhưng vẫn mất tiền. Bởi vì số tiền kí quĩ quá nhỏ trong giao dịch tương lai (luôn ít hơn 10% ), một dịch chuyển giá tương đối nhỏ theo chiều hướng ngược lại có thể buộc người giao dịch rời bỏ thị trường với kết quả thua lỗ hết hoặc phần lớn tiền kí quĩ. Ngược lại, trong thị trường giao dịch cổ phiếu, người giao dịch nhận thấy sai xu thế thị trường có thể đơn giản nắm giữ cổ phiếu, hy vọng nó quay trở lại một lúc nào đó.
Người giao dịch trong thị trường tương lai không có sự xa xỉ đó. Chiến lược “mua và nắm giữ” không áp dụng cho thị trường tương lai. Cả hai phương pháp phân tích cơ bản và kĩ thuật có thể được sử dụng trong giai đoạn đầu - quá trình dự đoán. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm, xác định điểm vào điểm ra cụ thể, hầu hết đơn thuần là kĩ thuật. Do đó, xem xét nhiều bước người giao dịch phải làm trước khi vào thị trường. Những ứng dụng nguyên lý phân tích kĩ thuật đúng trở nên không thể thiếu nhiều thời điểm trong quá trình, dù là phân tích cơ bản được áp dụng trong giai đoạn đầu của quá trình quyết định. Việc xác định thời điểm cũng quan trọng trong việc lựa chọn cổ phiếu riêng lẻ và trong việc mua bán trong nhiều thị trường và các nhóm ngành.

Tính linh động và khả năng thích ứng của phân tích kĩ thuật.
Một trong những sức mạnh lớn của phân tích kĩ thuật là tính thích ứng của nó gần như với bất cứ hoàn cảnh và khung thời gian nào. Không có thị trường cổ phiếu hoặc tương lai nào mà những qui tắc này không ứng dụng được.
Người phân tích biểu đồ có thể dễ dàng tham gia nhiều thị trường như mong muốn, nhìn chung không đúng với người phân tích cơ bản tương ứng của anh ta. Bởi vì số lượng dữ liệu khổng lồ phải xử lý sau đó, hầu hết các nhà phân tích cơ bản phải chuyên môn hoá. Các lợi thế này không được phớt lờ.
Ví dụ, trong giai đoạn thị trường sôi động và đóng băng, có xu thế hoặc không. Các nhà phân tích kĩ thuật tập trung sự chú ý và nguồn lực vào các thị trường có xu thế mạnh và phớt lờ các thị trường khác. Cuối cùng, người phân tích biểu đồ có thể luân phiên sự tập trung và vốn để tận dụng trạng thái luân chuyển của các thị trường. Tại những thời điểm khác nhau, những thị trường cụ thể trở nên “nóng” và trải qua những xu thế chính. Thông thường, sau những giai đoạn thị trường có xu thế là những lúc thị trường không có xu thế hoặc trầm lắng, khi đó các thị trường hoặc nhóm ngành khác thay thế. Các nhà phân tích kĩ thuật tự do lựa chọn. Tuy nhiên, các nhà phân tích cơ bản có khuynh hướng chuyên biệt hoá trong một nhóm ngành, không có tính linh động. Dù anh ta tự do chuyển nhóm ngành, những nhà phân tích cơ bản phải mất nhiều thời gian khó khăn hơn các nhà phân tích biểu đồ.
Một lợi thế khác của người phân tích kĩ thuật là “bức tranh lớn”. Bằng cách theo dõi tất cả các thị trường, anh ta có một cảm nhận tốt về tổng thể thị trường anh ta đang làm, và tránh sự “phiến diện” do chỉ theo dõi một nhóm ngành của thị trường. Hơn nữa, bởi vì có quá nhiều thị trường có mối liên hệ kinh tế gắn liền và phản ứng với các mối liên hệ kinh tế giống nhau, hành động giá trong một thị trường hoặc nhóm có thể cho các đầu mối giá trị cho chiều hướng tương lai của thị trường hoặc nhóm thị trường khác.

Dự đoán kinh tế
Phân tích kĩ thuật có thể đóng vai trò trong việc dự đoán kinh tế. Ví dụ, chiều hướng của giá hàng hoá cho chúng ta biết vài điều về xu hướng lạm phát. Chúng cũng cho chúng ta biết sức mạnh hay yếu của nền kinh tế. Nhìn chung giá cả hàng hoá tăng gợi ý nền kinh tế mạnh lên và áp lực lạm phát tăng lên. Giá hàng hoá giảm luôn cảnh báo kinh tế tăng trưởng chậm cùng với lạm phát. Tóm lại, biểu đồ thị trường hàng hoá như vàng, dầu, cùng với Trái Phiếu cho chúng ta biết nhiều về sức mạnh yếu của nền kinh tế và dự doán lạm phát. Chiều hướng của đồng đôla, tương lại của các ngoại tệ cũng cho biết sớm sức mạnh hay yếu của kinh tế toàn cầu tương ứng. Thậm chí ấn tượng hơn là trong thực tế những thị trường tương lai luôn cho thấy khá lâu trước khi chúng phản ánh trong các chỉ báo kinh tế truyền thống được xuất bản trên cơ sở hàng quí hàng tháng, và luôn cho chúng ta biết điều đã xảy ra. Như tên chúng ngụ ý, thị trường tương lai luôn cho chúng ta cái nhìn bên trong hình thành tương lai.
 

Những chỉ trích phương pháp Phân Tích Kĩ Thuật
Nhìn chung, có vài câu hỏi đưa ra trong các buổi thảo luận về phương pháp phân tích kĩ thuật. Một trong các mối quan tâm là lý thuyết tiền đề. Những câu hỏi khác là có thực sự dùng dữ liệu giá trong quá khứ để dự đoán chiều hướng giá tương lai hay không. Những người chỉ trích thường nói những điều như: “Biểu đồ cho chúng ta biết Thị trường đang ở đâu nhưng không thể cho biết nó sẽ đi tới đâu”. Tạm thời, chúng ta chỉ trả lời đơn giản rằng biểu đồ chẳng cho bạn biết điều gì nếu bạn không biết cách phân tích nó. Lý thuyết Bước Ngẫu Nhiên chất vấn Giá có xu hướng hay nghi ngờ các kĩ thuật dự đoán có thể đánh bại chiến lược mua và giữ đơn giản hay không. Các câu hỏi này đáng được trả lời.
 
Lý thuyết tiền đề
Câu hỏi là lý thuyết tiền đề có tồn tại không dường như làm nhiều người khó chịu bởi vì nó được nêu lên thường xuyên. Dĩ nhiên đó là mối bận tâm hợp lý, nhưng nó không quá quan trọng như mọi người nhận thấy. Có lẽ cách tốt nhất để trả lời câu hỏi này là trích dẫn một đoạn thảo luận về những điều bất lợi khi sử dụng những mẫu hình biểu đồ:
a. Cách sử dụng hầu hết mẫu hình được phổ biến rộng rãi nhiều thập kỉ trước. Nhiều người giao dịch biết rõ những mẫu hình này và thường hành động theo chúng. Điều này tạo ra “lý thuyết tiền đề”, như những con sóng mua hay bán được tạo ra do phản ứng theo các mẫu hình tăng hay giảm.
b. Những mẫu hình biểu đồ hầu như hoàn toàn chủ quan. Chưa có nghiên cứu nào thành công trong việc định lượng đúng bất cứ mẫu hình nào. Chúng thực chất là theo suy nghĩ của người xem…
Hai lời chỉ trích này mâu thuẫn lẫn với nhau và quan điểm thứ hai bác bỏ quan điểm đầu. Nếu mẫu hình giá “hoàn toàn chủ quan” và “theo suy nghĩ người xem”, vậy thì khó mà hình dung sao mọi người nhận ra những điều giống nhau trong cùng thời điểm, đây là nền tảng của lý thuyết tiền đề. Những người chỉ trích không thể nói cả hai. Một mặt, họ không thể chỉ trích biểu đồ quá khách quan và rõ ràng rằng mọi người sẽ hành động giống nhau đồng thời(do đó tạo nên khuôn mẫu giá được hoàn thành), và sau đó cũng chỉ trích biểu đồ quá chủ quan.
Sự thật của vấn đề là biểu đồ rất chủ quan. Việc phân tích biểu đồ là một nghệ thuật.(Có lẽ từ “kĩ năng” chính xác hơn cho quan điểm này.) Mẫu hình biểu đồ hiếm khi quá rõ ràng ngay cả những người phân tích kinh nghiệm ko lúc nào có cùng cách giải thích.
Mặc dù, hầu hết người phân tích kĩ thuật đồng ý về việc dự đoán thị trường, không nhất thiết họ và thị trường cùng thời điểm và với cách thức giống nhau. Một số người cố gắng dự đoán tín hiệu biểu đồ đề vào thị trường sớm. Những người khác mua khi “bức phá” khỏi những những mẫu hình hoặc chỉ báo cụ thể. Những người còn lại chờ điều chỉnh sau bức phá mới hành động. Nhiều người giao dịch thì hăng hái, người khác thì dè dặt. Nhiều người dùng lệnh dừng vào thị trường, trong khi những người khác dùng lệnh thị trường và lệnh giới hạn. Nhiều người giao dịch trong thời gian dài, trong khi người khác giao dịch trong ngày. Do đó, khả năng những người phân tích kĩ thuật hành động tại cùng thời điểm theo cùng một cách thực sự khá xa vời.
Mặc dù lý thuyết tiền đề là mối quan tâm chính, có lẽ nó sẽ “tự điều chỉnh” về bản chất. Nói cách khác, những người giao dịch dựa nhiều vào biểu đồ cho đến khi hành động phối hợp của họ bắt đầu ảnh hưởng và bóp méo thị trường. Khi người giao dịch thấy điều này xảy ra họ dừng sử dụng biểu đồ và điều chỉnh chiến thuật giao dịch. Ví dụ, họ hoặc cố gắng hành động trước đám đông hoặc chờ lâu hơn để xác nhận rõ ràng. Do đó, mặc dù lý thuyết tiền đề trở thành vấn đề trong ngắn hạn, nó sẽ có xu hướng tự điều chỉnh.
Luôn nhớ rằng thị trường tăng hay giảm chỉ xảy ra và duy trì khi nó được chứng minh qua quy luật cung và cầu. Có lẽ người phân tích kĩ thuật không thể tạo nên xu thế chính của Thị trường chỉ bằng lực mua bán của mình. Nếu đúng như vậy, tất cả những người phân tích kĩ thuật sẽ trở nên giàu có nhanh chóng.
Nhìn chung, lý thuyết tiên đề được liệt kê như là những chỉ trích phân tích biểu đồ. Có lẽ xem đó là những lời khen ngợi thì phù hợp hơn. Cuối cùng, với bất kì kĩ thuật dự đoán quá phổ biến nó bắt đầu gây ảnh hưởng, nó hẳn là khá tốt. Chúng ta có thể tự nghĩ tại sao mối quan tâm ít khi được nêu ra đối với việc sử dụng phân tích cơ bản.
 
Có thể dùng Quá khứ để dự đoán Tương lai?
Một câu hỏi khác đưa ra mối quan tâm tính hợp lý của việc dùng dữ liệu giá quá khứ để dự đoán tương lai. Nhiều chỉ trích phương pháp phân tích kĩ thuật về vấn đề này làm ngạc nhiên bởi vì, từ việc dự báo thời tiết đến phân tích cơ bản, hoàn toàn dựa trên nghiên cứu dữ liệu quá khứ. Có dữ liệu nào khác để nghiên cứu?
Lãnh vực số liệu thống kê có sự khác biệt giữa số liệu thống kê miêu tả và số liệu thống kê qui nạp. Số liệu thống kê miêu tả nói đến cách trình bày dữ liệu bằng hình ảnh, như biểu đồ giá trên biểu đồ thanh tiêu chuẩn. Số liệu thống kê quy nạp nói đến sự khái quát hoá, dự đoán, và loại suy được suy ra từ dữ liệu đó. Do đó, chính biểu đồ giá nằm trong phần hình ảnh, trong khi người phân tích kĩ thuật thực hiện dữ liệu đó lại rơi vào phần qui nạp.
Theo một đoạn văn thống kê ”Bước đầu tiên để dự đoán tương lai của nền kinh tế hoặc công ty, do đó, bao gồm tập hợp những quan sát trong quá khứ.” (Freund và Williams). Phân tích biểu đồ là một dạng khác của phân tích chuỗi thời gian, dựa trên nghiên cứu quá khứ, chính xác là làm gì trong tất cả dạng phân tích chuỗi thời gian. Chỉ có một loại dữ liệu mà mọi người phải dùng là dữ liệu quá khứ. Chúng ta chỉ có thể dự đoán tương lai bằng cách dùng những kinh nghiệm quá khứ vào tương lai.
Do đó dường như việc sử dụng dữ liệu giá quá khứ để dự đoán tương lai trong phân tích kĩ thuật dựa trên khái niệm số liệu thống kê hợp lý. Nếu người nào chất vấn nghiêm túc về khía cạnh dự đoán bằng phân tích kĩ thuật, anh ta hoặc cô ta phải đặt câu hỏi về sự hợp lý của mỗi hình thức dự đoán khác dựa trên dữ liệu lịch sử, bao gồm tất cả phân tích cơ bản và kinh tế.

Phân tích cơ bản - 3 phương pháp giúp đầu tư chứng khoán hiệu quả

Phân tích cơ bản - 3 phương pháp giúp đầu tư chứng khoán hiệu quả
Đã bao giờ bạn nghe một ai đó nói rằng 75% sự dao động của giá cổ phiếu
là do những thay đổi chính ngay từ bên trong ngành kinh doanh đó? Tuy khó có
thể đưa ra con số dự đoán chính xác nhưng một điều chắc chắn rằng những xu
hướng trong một ngành có ảnh hưởng rất lớn đến những lợi nhuận và giá cổ phiếu
của mỗi công ty trong chính ngành đó. Chính vì vậy, chúng ta cũng nên nghiên
cứu và tìm hiểu không chỉ riêng cổ phiếu mà còn cả những xu hướng trong các
ngành kinh doanh đó.

Các nhà đầu tư thường dồn tiền đầu tư vào những khu vực có ưu thế hơn
của thị trường, được gọi là chuyển đổi đầu tư ngành. Sự chuyển đổi đầu tư này
thường xuyên bị tác động bởi những sự kiện mà có thể ảnh hưởng không chỉ đến
một công ty mà đến toàn bộ ngành đó. Ví dụ, khi giá dầu tăng, các nhà đầu tư sẽ không đầu tư tiền để mua cổ phiếu của ngành hàng không và vận tải mà đầu tư vào các công ty khai khác dầu hay các công ty dầu lớn. Khi đó, giá của các hàng hoá và sản phẩm của nhiều ngành có liên quan cũng thay đổi theo. 
Đôi khi, tiền còn được đầu tư vào nhiều khu vực khác nhau trên thị trường là do những biến động trong nền kinh tế. Chẳng hạn như, những thay đổi trong tỷ 
lệ lãi suất có thể dẫn việc chuyển đổi đầu tư vào một số khu vực nhạy cảm về lãi
suất trên thị trường như ngân hàng và môi giới chứng khoán, nhưng đôi khi cũng
có thể là không. Do đó, việc chuyển đổi đầu tư ngành trở thành vấn đề đặc biệt
quan trọng trong suốt quá trình thay đổi của nền kinh tế.

Chính vì vậy, để quyết định xem nên tiếp tục đầu tư vào ngành nào, các nhà
đầu tư có thể sử dụng các phương pháp phân tích khác nhau để nghiên cứu từng
yếu tố mà có thể ảnh hưởng đến mỗi ngành. Sau đây là một vài nét cơ bản về ba
phương pháp phân tích vẫn hay được sử dụng:

1) Phương pháp phân tích trực quan

Trong phương pháp này, việc phân tích sẽ tập trung nhiều hơn vào từng ngành và lợi nhuận thu được của chính ngành đó. Từ đó, có thể xác định được cổ 
phiếu ngành nào là cổ phiếu có tiềm năng nhất. Ví dụ, các cuộc bạo lực diễn ra ở
Trung Đông là lý do chính khiến giá dầu tăng, lúc đó các nhà đầu tư sẽ chú ý đến
ngành năng lượng để tìm cơ hội vì giá cổ phiếu của ngành này tăng cao và khi đó
dĩ nhiên giá cổ phiếu ngành hàng không sẽ giảm. Nhiều công ty môi giới chứng
khoán đã đưa ra các bản báo cáo thường xuyên về các ngành, và sau đó áp dụng các phương pháp phân tích này để đưa ra những đánh giá. 

2) Phương pháp phân tích kỹ thuật

Phương pháp này được coi như là một cách tiếp cận khác đối với việc
chuyển đổi đầu tư ngành. Đó là cách chung nhất được sử dụng để lập và nghiên
cứu những biểu đồ của các chỉ số ngành khác nhau. Chẳng hạn như chúng ta có
thể dùng phương pháp này để lập biểu đồ về chứng khoán và từ đó xác định các 
dấu hiệu giao dịch. Về cơ bản, việc phân tích này thường sử dụng các chỉ số ngành khác nhau để thấy những thay đổi đang diễn ra trên thị trường. Sau đó, việc lựa chọn chứng khoán và các nhóm ngành để đầu tư sẽ được dựa trên những nghiên cứu đó. 

Phương pháp này đã được tập đoàn Chartcraft ở New York sử dụng trong
nhiều năm qua để xác định phần trăm cổ phiếu đang có dấu hiệu được mua vào so với phần trăm cổ phiếu được bán ra và từ đó tìm các nhóm ngành có tiềm năng nhất cũng như ít có tiềm năng nhất. 
3) Phương pháp phân tích định lượng

Đây là phương pháp ít được sử dụng nhất. Một số công ty sử dụng các mô
hình để xếp hạng các nhóm ngành dựa vào lợi nhuận thu được, tỷ lệ lãi suất, thay đổi về giá v.v. Các con số này được đưa vào một công thức và sau đó các ngành được xếp hạng dựa vào các kết quả vừa thu được. Có lẽ công cụ phổ biến nhất là hệ thống xếp hạng Value Line Invesment Survey. Hệ thống này được áp dụng cho cả chứng khoán và nhiều nhóm ngành khác. 

Nhìn chung, nhiều nhà kinh doanh thường kết hợp ba phương pháp trên để
nghiên cứu các ngành hoặc nhóm ngành cụ thể. Nhưng điều quan trọng là tìm ra
các khu vực thị trường có tiềm năng nhất hoặc khu vực ít có tiềm năng nhất để có các chính sách đầu tư một cách hiệu quả. Việc sử dụng kết hợp này sẽ giúp bạn một cách đáng kể trong việc lựa chọn cổ phiếu vì lịch sử từ trước tới nay cho thấy việc giá cổ phiếu cá nhân dao động thường là do những thay đổi không chỉ trong công ty mà còn do cả các nhóm ngành khác có liên quan.

Bốn mức độ hiểu biết của nhà đầu tư chứng khoán

Bốn mức độ hiểu biết của nhà đầu tư chứng khoán
   Để đầu tư chứng khoán thành công, mỗi nhà đầu tư cần nhận thức được bốn mức độ hiểu biết trong quá trình đầu tư
  1. Không biết rằng mình không biết: Đa số mọi người đều ở trạng thái này khi mới bắt đầu đầu tư chứng khoán. Những người ở tình trạng này sẽ chịu rủi ro cao do họ hoàn toàn không ý thức được điều mà mình đang làm. Họ đầu tư liều lĩnh, hy vọng và cầu nguyện, họ cho rằng biết rõ việc mình đang làm, và họ không nhận thức được là mình hoàn toàn không biết gì cả
Không biết rằng mình không biết là một hiện tượng rất nguy hiểm trong đầu tư, điều này giải thích lý do tại sao những người mới bắt đầu vào nghề đầu tư chứng khoán lại có khoản lợi nhuận cao ngay trong lần mua cổ phiếu đầu tiên. Thành công ấy làm họ tin rằng mình đã tìm ra bí quyết đầu tư, và nguy hiểm hơn là anh ta rất tự tin rằng mình thật sự biết mình đang làm gì. Vì thế anh ta cứ lập đi lập lại những gì mình đã làm trong lần bỏ vốn đầu tiên, và cuối cùng họ nhận ra cách làm này làm họ mất rất nhiều tiền. Điều này rất nguy hiểm, mỗi nhà đầu tư cần phải ý thức rõ
  2. Biết rằng mình không biết: Ở mức độ này, nhà đầu tư thường có cảm giác chán nản, mệt mỏi, họ nghĩ thị trường chứng khoán quá khó đối với họ và làm họ thất bại. Nhưng đây là cách duy nhất chúng ta cần phải thừa nhận, biết là mình không biết để cố gắng học hỏi, nâng cao kiến thức để trở nên thông thạo hơn trong việc đầu tư
  3. Hiểu biết lĩnh vực mình làm nhưng chưa biến thành phản xạ tự nhiên: Đến mức độ này, bạn ý thức được tất cả những việc mình làm, bạn hiểu rõ đâu là công ty tốt xấu, bạn mua khi thấy công ty tốt lên và bán khi công ty trở nên xấu đi. Tuy nhiên để tiến tới quyết định mua hoặc bán bạn thường tỏ ra chậm chạp, thời gian xem xét để ra quyết định khá lâu, vì vậy cơ hội dễ bị tuột mất. Rất nhiều chuyên gia đang rơi vào trạng thái này, họ đều có bằng cấp rất cao trong ngành đầu tư, họ hiểu rõ các chỉ số tài chính nhưng khi đến quyết định thường thì họ rất do dự.
  4. Am hiểu sâu sắc lĩnh vực mình làm và phản xạ rất nhanh chóng: giai đoạn này được gọi là “năng lực trong tình trạng vô thức”, ở trình trạng này bạn có thể ra quyết định trong một thời gian rất ngắn như một phản xạ tự nhiên. Để biến thành phản xạ không điều kiện trước tiên bạn phải am hiểu sâu sắc lĩnh vực mà bạn làm, qua quá trình làm việc bạn tích góp thêm kinh nghiệm trong thất bại cũng như thành công.
Để đạt nhiều thành công, kiếm được nhiều tiền đối với bất kỳ lĩnh vực đầu tư nào, bạn nên nhận thức rõ bốn mức độ trên. Khi hiểu rõ, bạn hãy cố gắng đạt đến mức độ nhận thức cao nhất (mức độ bốn). Thành công về mặt tài chính sẽ đến với bạn!
Ngọc Tuấn ( st)